Nhãn

Thứ Năm, 28 tháng 3, 2013

Sẽ đuổi khỏi ngành cán bộ điện lực ăn chặn tiền của dân

Ông Lương Duy Hoằng, Giám đốc Điện lực huyện Minh Hóa, thừa nhận với Dân trí, sự việc cán bộ ngành điện lực huyện này nhận tiền của dân là có thật, số tiền này đã được trả lại cho dân.



Sau khi báo Điện tử Dân trí đăng tải bài viết: “Cán bộ điện lực bị “tố” ăn chặn tiền của dân” (ngày 15/03/2013), Sở Điện lực tỉnh Quảng Bình đã khẩn trương thành lập đoàn kiểm tra để xác minh thông tin báo nêu. Qua xác minh vụ việc, Sở Điện lực tỉnh này thừa nhận, việc một số cán bộ ngành điện lực huyện Minh Hóa nhận tiền của một số hộ dân ở xã Hóa Hợp như báo chí phản ánh là hoàn toàn có thật.


Theo đó, những cá nhân có liên quan đến vụ việc là ông Trần Xuân Quyết (Tổ trưởng) và ông Nguyễn Quang Vĩnh (nhân viên) quản lý tuyến đường điện đi qua xã Hóa Hợp.


Ông Hoằng cho biết, sau khi sự việc xảy ra, phía đơn vị đã tổ chức một cuộc họp và phê bình 2 cá nhân này trước toàn ngành vì cách làm như thế là sai, đồng thời yêu cầu viết bản tường trình nói rõ lại toàn bộ sự việc.

Sẽ đuổi khỏi ngành cán bộ điện lực ăn chặn tiền của dân

"Nếu đúng có hiện tượng cán bộ ăn chặn tiền của dân thì nhất quyết sẽ đuổi ra khỏi ngành”, ông Hoằng khẳng định


“Vụ việc hiện đang trong quá trình chờ xử lý, nhưng nếu đúng có hiện tượng cán bộ ăn chặn tiền của dân thì nhất quyết sẽ đuổi ra khỏi ngành đối với những cán bộ đó”, ông Hoằng khẳng định.



Theo dantri

Phạt xe không chính chủ: “Được giao quyền nhưng không nên lạm quyền”

Bộ Giao thông nói không, Bộ Công an nói có, người dân thì nơm nớp lo bị phạt. Sự bất đồng giữa 2 Bộ chức năng trong 1 quy định xử phạt càng cho thấy nhất thiết phải xem xét thật kỹ để vừa được việc nước, vừa hợp lòng dân.




Có cố đấm ăn xôi?

Sau nhiều tranh cãi về việc xử phạt hành vi không chuyển quyền sở hữu phương tiện (thường gọi là xe không chính chủ), Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng cho rằng quy định này thiếu tính khả thi và rút quy định khỏi Dự thảo Nghị định 71 sửa đổi về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Người đứng đầu ngành giao thông nói rõ đây không phải là sự chùn tay mà là tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân.
Tuy nhiên ngay sau đó, Bộ Công an khẳng định vẫn phạt người tham gia giao thông nếu mắc lỗi không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định. Theo Thông tư 11/2013/TT-BCA của Bộ Công an, quy định xử phạt này sẽ bắt đầu được thực thi từ 15/4 tới đây, mức phạt áp dụng đối với ô tô là từ 6-10 triệu đồng/lần vi phạm và xe máy là từ 800.000 - 1,2 triệu đồng/lần vi phạm.


Mặc dù Bộ Công an nhấn mạnh lực lượng cảnh sát giao thông không được phép dừng xe để kiểm soát lỗi xe không chính chủ nhưng khi bắt các lỗi vi phạm trực tiếp, trường hợp người tham gia giao thông không xuất trình được đầy đủ các giấy tờ sẽ bị tạm giữ phương tiện để xác minh làm rõ có hay không vi phạm quy định không chuyển quyền sở hữu phương tiện.


Bộ Công an lại kiên quyết bảo lưu quy định xử phạt hành vi
Bộ Công an lại kiên quyết bảo lưu quy định xử phạt hành vi không sang tên đổi chủ cho phương tiện

Ngày 25/3, Dự thảo Nghị định 71 sửa đổi (lần 3) chính thức được công bố. Ban soạn thảo Nghị định này không thống nhất được việc loại bỏ hay duy trì quy định xử phạt hành vi không sang tên đổi chủ cho phương tiện, Bộ Giao thông Vận tải muốn rút nhưng Bộ Công an lại kiên quyết bảo lưu. Bởi thế, trong dự thảo Tờ trình Thủ tướng Chính phủ, Ban soạn thảo đã đặt quy định này trong nhóm các vấn đề còn có ý kiến khác nhau và dự thảo Nghị định lần 3 đang thể hiện theo luồng ý kiến chưa quy định hành vi vi phạm không chuyển quyền sở hữu phương tiện.

Cần nói thêm rằng, Thông tư 11 của Bộ Công an chỉ có hiệu lực trong vòng 2,5 tháng (từ 15/4-30/6), tức đây là giải pháp “lấp chỗ trống” trong thời gian chờ Nghị định quy định xử phạt mới được ban hành. Điều này càng khiến người dân băn khoăn về quyết tâm xử phạt của Bộ Công an.

“Công an cứ làm nhiệm vụ đảm bảo trật tự an toàn giao thông”

Xung quanh quy định xử phạt xe không sang tên đổi chủ, trao đổi với PVDân trí, ông Lê Hồng Sơn - Cục trưởng Cục kiểm tra Văn bản, Bộ Tư pháp - cho rằng vấn đề này phải phân tích từ nhiều góc độ để bảo đảm “thấu tình, đạt lý”.
“Tôi ủng hộ quan điểm của Bộ Giao thông Vận tải, đó là quan điểm phù hợp” - ông Sơn cho hay - “Như tôi đã nhiều lần phân tích về việc đưa một hành vi của công dân ra để phạt hay không phạt, đồng ý là xuất phát từ yêu cầu quản lý Nhà nước, bảo đảm trật tự kỷ cương chung. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là mục đích cuối cùng của việc xử phạt có xuất phát từ chính lợi ích của dân và của xã hội hay không? Đây là vấn đề rất lớn, không thể coi thường.

Đã có tình trạng một số Bộ, ngành khi đưa ra hành vi để xử phạt công dân ngoài xã hội chủ yếu xuất phát từ ý muốn chủ quan, tạo thuận lợi cho việc quản lý của mình và cuối cùng là gây ra hậu quả dồn ép người dân, tạo sự phản ứng trong xã hội”.
Theo ông Sơn, vấn đề phạt hay không phạt trước hết phải xuất phát từ bản chất của việc sang tên đổi chủ. Đối với một tài sản của công dân thì đây là vấn đề liên quan đến quyền sở hữu. Quy định xử phạt xe không sang tên đổi chủ nếu xét về lợi ích xã hội là không cần thiết, vì người điều khiển phương tiện đi trên đường chỉ cần đảm bảo điều kiện có bằng lái phương tiện đó và phương tiện đó đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật lưu thông, còn công an cứ làm tốt nhiệm vụ đảm bảo trật tự an toàn giao thông chứ không nên chú trọng việc phạt có sang tên đổi chủ hay không.


Quy định xử phạt xe không sang tên đổi chủ nếu xét về lợi ích xã hội


"Quy định xử phạt xe không sang tên đổi chủ nếu xét về lợi ích xã hội là không cần thiết"


Ông Sơn phân tích: Đối với xe máy, ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ có thể gây ra những hậu quả trong quá trình lưu hành sử dụng, việc buộc phải sang tên đổi chủ khi chuyển quyền sở hữu là cần thiết. Nhưng nếu đẩy vấn đề lên thành kiểm tra, bắt chứng minh, xử phạt là không phù hợp, không được dư luận đồng tình.
Việc xác minh một phương tiện thuộc quyền sở hữu của ai chỉ được đặt ra trong trường hợp hết sức hạn chế như: có tranh chấp về quyền sở hữu đối với phương tiện hoặc trường hợp cần phải xác định trách nhiệm của chủ sở hữu phương tiện khi phương tiện đó gây ra hậu quả cho người khác.


“Trường hợp bắt buộc phải quy định thì chỉ nên áp dụng đối với ô tô (vì là tài sản lớn), không nên áp dụng với xe máy. Việc xử phạt nên thông qua tài khoản ngân hàng của chủ phương tiện. Cùng với vấn đề thủ tục hành chính đỡ phức tạp, chi phí chuyển đổi giảm thì tự khắc người dân sẽ tự ý thức được việc chuyển đổi khi mua-bán xe để không phải chịu phạt oan” - ông Sơn nói thêm.

Theo dantri



Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

“INDEX ON CENSORSHIP” - TỔ CHỨC CỔ XÚY CHUYÊN NGHIỆP

“Index On Censorship” là một tổ chức Phi chính phủ (viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Non Governmental Organization - NGO) được thành lập, chính thức đi vào hoạt động vào năm 1970. Chủ tịch của tổ chức này là Padraig Reidy, “Index On Censorship” có trụ sở đóng tại Thủ đô London nước Anh.

Trải qua hơn 40 năm hoạt động, ngoài những đóng góp cho dân chủ, nhân quyền, tự do cho toàn cầu, “Index On Censorship” đã có nhiều hoạt động “cổ xúy”, tuyên truyền, phục vụ cho chủ nghĩa tự do thường gọi là “tự do báo chí”, “tự do Internet”, “tự do ngôn luận”… theo các giá trị kiểu Mĩ và phương Tây. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cách mạng XHCN đã thành công ở nhiều nước, hình thành hệ thống các nước XHCN anh em trên phạm vi toàn cầu. Bối cảnh lịch sử đó đã làm thay đổi lớn căn bản cục diện chính trị thế giới, đưa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản vào thế cân bằng, đối trọng với nhau. Mĩ và các nước phương Tây xem đó là mối nguy hiểm thường trực, đe dọa đến sự sống còn của chủ nghĩa tư bản trên toàn cầu, làm lung lay vị trí bá chủ thế giới của Mĩ. Đứng trước tình hình đó, Mĩ và các nước đồng minh đã liên kết chặt chẽ với nhau để chống lại sự “bành trướng” của chủ nghĩa xã hội. Tháng 3-1947, Tổng thống Mĩ Tơruman đã tuyên bố đề ra “Chủ nghĩa Tơruman”, chính thức phát động cuộc “Chiến tranh lạnh” tổng lực trên toàn cầu nhằm chống lại các nước XHCN, mũi nhọn chính là hướng vào Liên Xô và các nước Đông Âu.

Trong đó, thành lập “Index On Censorship” là một phần trong chiến dịch của “Chiến tranh lạnh” của Đế quốc Mĩ chống lại CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Trong giai đoạn đầu, trọng tâm trong tôn chỉ, mục đích hoạt động của tổ chức này là hướng về các nước XHCN ở Liên Xô và Đông Âu với các nhiệm vụ “cao cả” như: “giám sát tự do báo chí”, “giám sát tự do tôn giáo”, “giám sát nhân quyền”… Tuy nhiên, vào đầu những năm 70 của thế kỉ XX, các nước XHCN bắt đầu lâm vào khủng hoảng, suy thoái trên nhiều mặt, hoạt động của các thế lực thù địch bắt đầu thay đổi chiến lược chống phá, cho ra đời nhiều tổ chức Phi Chính phủ nhằm phục vụ cho các âm mưu, hoạt động của chúng. Sự sụp đổ của Liên Xô, các nước XHCN ở Đông Âu có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, ghi dấu ấn vai trò của các tổ chức phi chính phủ (NGO) do Mĩ lập ra, trong đó có “công” lớn của “Index On Censorship”. Chính vì vậy, tổ chức này dước sự bảo trợ của Mĩ và phương Tây trở nên kiêu hãnh, coi đó là “chiến công vĩ đại”, cổ vũ chúng tiếp tục thực hiện “sứ mệnh” lịch sử mở rộng, chuyển hướng sang “cổ xúy” cho chủ nghĩa tự do toàn cầu, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Chúng đã thành lập các giải thưởng khác nhau, tiến hành trao thưởng nhằm khuyến khích, động viên cho các đối tượng chống đối các quốc gia, vùng lãnh thổ. “Giải thưởng báo chí” (thành lập năm 2000, được sự bảo trợ chính của Báo The Guardian & Google) là giải được trao thường niên không nằm ngoài mục đích trên. Năm 2013, nhân dân Việt Nam vô cùng “sửng sốt” khi biết tin công dân mình Tạ Phong Tần - một can phạm có hoạt động tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cùng với 3 cái tên khác được đề cử nhận giải thưởng này (gồm: Kostas Vaxevanis - Hi Lạp, Mosireen - Ai Cập, Sadiye Eser - Thổ Nhĩ Kỳ và Tạ Phong Tần).

Ta phong tran


          Chắc hẳn có nhiều người băn khoăn mà tự hỏi Tạ Phong Tần là ai mà “vinh dự” được nhận giải thưởng này? Không để cho đọc giả phải tò mò, tôi xin được đưa một vài thông tin từ cơ quan chức năng tỉnh Bạc Liêu về người “bình thường bổng nhiên nổi tiếng” - Tạ Phong Tần để mọi người tiện theo dõi. Tạ Phong Tần, sinh năm 1968, quê ở huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Tần đã từng có thời gian công tác tại Sở thương mại - Du lịch tỉnh Bạc Liêu. Xuất phát từ các lí do cá nhân mà sinh ra tư tưởng bất mãn, y đã có nhiều bài viết đăng trên BBC (viết tắt của cụm từ tiếng Anh: British Broadcasting Corporation - là Thông tấn xã quốc gia của Vương quốc Liên Hiệp Anh và Bắc Ireland) nói xấu Đảng, Nhà nước Việt Nam. Năm 2006, vì vi phạm kỉ luật, gây mất đoàn kết trong nội bộ, làm đơn tố cáo sai sự thật, Tần bị đuổi việc. Tháng 12-2012, Tần gia nhập “Câu lạc bộ nhà báo tự do” (Câu lạc bộ này nơi qui tụ của nhiều đối tượng bất mãn, có nhiều hoạt động tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước). Tại đây, y đã có nhiều hoạt động viết bài, tán phát trên 900 tài liệu có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam. Với những chứng cứ không thể chối cãi, ngày 25-9-2012 Tạ Phong Tần bị kết án 10 năm tù về tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Qua các thông tin cơ bản trên, tất cả chúng ta đều rõ bản chất Tạ Phong Tần là ai, giá trị đích thực của “Index On Censorship” và sự chân chính trong “Giải thưởng báo chí” đã

thang ngu                                              Ông Padraig Reidy, chủ biên của tổ chức Index on Censorship

            Như vậy, “Index On Censorship” và các “con đẻ” sinh ra đều là những trò lố, bịch bợm, trò hề cho nhân dân tiến bộ hòa bình trên thế giới. Cái gọi là “giám sát”, “bảo vệ” cho “tự do báo chí” đã lộ rõ bản chất tổ chức này là một “con át chủ bài” trong một bàn cờ chiến lược do Mĩ, đồng minh lập nhằm mục đích bảo trợ, tiếp sức cho các đối tượng chống đối, gây nguy hại cho an ninh quốc gia các nước XHCN, các nước đối đầu lợi ích của Mĩ trong đó có Việt Nam. Là một công dân của Việt Nam, tôi nghĩ rằng “Index On Censorship” không nên lấy hoạt động của mình để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam mà chỉ nên tập trung vào hoạt động phát triển nhân quyền chân chính. Nhân dân Việt Nam, cộng đồng tiến bộ yêu chuộng hòa bình quốc tế có quyền lựa chọn các mức độ chuẩn mực giá trị về quyền con người cho nước mình mà không cần phải áp đặt theo các giá trị tự do, nhân quyền kiểu Mĩ hay của một nước nào khác. Đây chính là vấn đề căn bản trong đánh giá một quốc gia có vi phạm dân chủ, tự do, nhân quyền hay không./.

                                                                                                                                                                                          Phillip Tran

Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2013

Tin đồn Cảnh sát 141 hành hung dân gãy quai hàm đã được làm rõ

Nguyễn Anh

Vụ nghi án Cảnh sát 141 hành hung người dân gãy quai hàm vừa qua được sự quan tâm của đọc giả cả nước và người dân Hà Nôi. Đây là cái cớ  hoàn hảo cho bọn phản động, xuyên tạc tham gia kích dộng nhân dân, thổi phòng và xuyên tạc sự thật.


Đường link này đã nói lên bộ mặt thật của chúng  :    http://danoan2012.blogspot.com/2013/03/nlo-trong-khi-phia-ca-cho-rang-nghiem.html.

Và sự thật đã được làm rõ, đập tan âm mưu của chúng.Trong kết luận điều tra ban đầu, Công an thành phố Hà Nội khẳng định không có việc người dân bị 141 đánh gây thương tích nặng mà do người này tự ngã khi bỏ chạy. Đồng thời, CATP Hà Nội cũng khẳng định, lời khai các nhân chứng là không khách quan.

Vào chiều nay, 20/3, Thiếu tướng Trần Thùy - Phó Giám đốc, Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra, CATP Hà Nội - đã thông báo kết quả điều tra ban đầu về vụ việc anh Nghiêm Duy Hoàng (SN 1990, ở Thiệu Hóa, Thanh Hóa) tố cáo bị tổ công tác đặc biệt Y5/141 đánh gây thương tích nặng.


Anh Nghiêm Duy Hoàng tố cáo bị tổ công tác Y5/141 đánh gây thương tích nặng.

Anh Nghiêm Duy Hoàng tố cáo bị tổ công tác Y5/141 đánh gây thương tích nặng.

Theo đó, khoảng 15h30 ngày 14/3, anh Hoàng đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, không mang giấy tờ xe máy và giấy tờ tùy thân, vi phạm luật giao thông nên tổ công tác Y5/141 làm nhiệm vụ ở ngã tư Minh Khai - Kim Ngưu (quận Hai Bà Trưng) đã ra lệnh dừng xe. Tuy nhiên, anh Hoàng không chấp hành và quay đầu bỏ chạy, gây nguy hiểm cho bản thân và người tham gia giao thông, do đó lực lượng Y5/141 kiên quyết ngăn chặn.

Công an Hà Nội khẳng định: “Khi bỏ chạy với tốc độ cao, trên đường có nhiều vật cản, Hoàng đã đâm xe máy vào dải phân cách nên đã bị nhiều thương tích trên cơ thể. Việc anh Hoàng khai bị lực lượng 141 đánh là không có căn cứ.”

Theo Công an Hà Nội, cơ quan này đã lấy lời khai các nhân chứng, khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, khám nghiệm thu thập các dấu vết trên phương tiện xe máy anh Hoàng sử dụng, giám định các dấu vết, công cụ hỗ trợ, các thương tích trên người anh Hoàng và cơ chế hình thành thương tích…

Về 2 nhân chứng khai là đã nhìn thấy Cảnh sát cơ động dùng gậy đánh vào mặt anh Hoàng làm anh Hoàng ngã vào dải phân cách, Công an Hà Nội khẳng định, các nhân chứng này đứng ở những góc quan sát khác nhau, ở xa nên có thể lầm tưởng việc cầm gậy nhựa giơ ngang để ra hiệu lệnh dừng xe của CSCĐ là hành vi đánh anh Hoàng.

“Trên cơ sở căn cứ kết quả giám định cơ chế hình thành dấu vết để lại trên gò má phải anh Hoàng, dấu vết để lại hiện trường, kết quả giám định trên gậy nhựa do CSCĐ mà cơ quan điều tra thu giữ, các lời khai nhân chứng khác, đủ căn cứ xác định lời khai của 2 nhân chứng này là không khách quan” - Công an Hà Nội khẳng định trong bản kết luận điều tra.

Thiếu tướng Trần Thùy cho hay, đây chỉ là kết luận ban đầu, cơ quan công an sẽ tiếp tục điều tra. Hiện các công vụ hỗ trợ đã được thu giữ để giám định, các vết thương hiện đang được Viện Pháp y giám định để đi đến kết luận chính thức.

Như vậy sự tham gia điều tra kịp thời của các cơ quan chức năng về nghi án mà công dân mạng xôn xao đã đưa sự thật ra ánh sáng, nguyên nhân về vụ việc được người dân hiểu rõ tận tình, và dường như bọn xuyên tạc đã câm như hến, không còn mảnh may gì tới vụ việc này nữa,có lẽ chúng nên tự xấu hộ cho những việc mình đã làm. Hi vọng người dân sẽ nâng cao cảnh giác với những thông tin trên mạng, tránh xa nó càng tốt, để tránh bị bọn chúng lợi dụng kích động.

 

Nguyễn Anh (tổng hợp)

 

Xem xét đề xuất ly hôn thuận tình không cần ra tòa

Nếu phương án này được chấp thuận, một cặp vợ chồng thuận tình ly hôn không cần phải đi đâu xa, không cần phải bước qua cánh cửa nặng nề của tòa án mà chỉ cần đến ngay UBND cấp xã, nơi đã đăng ký kết hôn để giải quyết việc ly hôn.




“Trường hợp vợ chồng thuận tình trong ly hôn và không có tranh chấp về tài sản, con thì có thể giải quyết việc ly hôn thông qua thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền về đăng ký hộ tịch”. Đây là một đề xuất táo bạo được đưa ra tại Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình.

Phó Chánh án TANDTC Tưởng Duy Lượng: ‘Ai sẽ là người thi hành các quyết định ly hôn đó?”.


Phó Chánh án TANDTC Tưởng Duy Lượng: ‘Ai sẽ là người thi hành các quyết định ly hôn đó?”.

Ly hôn “miệng” vì ngại đến Tòa án

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm và các văn bản hướng dẫn thi hành, kể cả trong trường hợp hai bên thuận tình ly hôn thì họ vẫn phải đến UBND cấp xã, phường để xin xác nhận rồi đến tòa án để tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ. Nếu đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết thì tòa án mới ra quyết định công nhận ly hôn mà không phải mở phiên tòa.

Nhiều người đã bước qua cánh cửa ly hôn tâm sự, khi tình yêu đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được, điều họ ngại nhất chính là đối diện với tòa án. Chị T. ở quận 1, thành phố Hồ Chí Minh cho biết, trước kia, hai vợ chồng chị lấy nhau 5 năm mà không có con, anh chị thuận tình ly hôn. Nhưng vì ngại đến tòa án làm  thủ tục ly hôn, anh chị thuận tình ly hôn “miệng”, đường ai nấy đi.

Bẵng đi một thời gian, khi chị đã có một gia đình mới yên ấm, có con trai con gái đuề huề thì người chồng cũ trở về, chìa giấy kết hôn ra đòi quyền làm chồng. Chị tâm sự, giá như ngày trước chị không “ngại” thì giờ đã không rơi vào mớ bòng bong này.

Anh H và chị M lại là công nhân làm chung một khu công nghiệp, yêu và kết hôn chỉ sau 5 tháng quen biết. Sống với nhau mới nảy sinh mâu thuẫn, anh đề nghị chị ly hôn bằng cách … “xé” Giấy đăng ký kết hôn, khỏi phải đến tòa án cho “ đỡ tốn thời gian, phiền phức”!.

Ban đầu chị cũng định phải đến tòa án làm thủ tục ly hôn cho rõ ràng, nhưng vì bận công việc, lại ngại đến tòa án, chị tặc lưỡi đồng ý. Giờ có người khác đến tìm hiểu, muốn tiến tới hôn nhân, chị hoang mang không biết việc chị và anh H “ly hôn” như vậy có được công nhận không, chị có quyền đi lấy chồng mới không?

Ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn, đường đến tòa án huyện xa xôi, người dân nghèo thường có tâm lý ngại đến chốn pháp đình. Nhiều cặp vợ chồng thuận tình ly hôn bằng cách tự thỏa thuận “đường ai nấy đi” mà không biết rằng nhiều hệ lụy đang chờ trước mặt.

Thủ tục giải quyết việc thuận tình ly hôn đơn giản hơn, đỡ nặng nề hơn thực sự là giải pháp thanh thản cho những cuộc hôn nhân chẳng may đứt gánh giữa đường.

Có thể chọn cơ quan đăng ký hộ tịch hoặc tòa án?

Nếu việc thuận tình ly hôn được thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền về đăng ký hộ tịch thì nơi đăng ký kết hôn cũng là nơi người dân có thể tìm đến để đăng ký ly hôn. Cán bộ hộ tịch là người thụ lý và chủ tịch UBND cấp xã sẽ là người ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn cho người dân sống trong xã, phường, thị trấn.

Ông Lê Ngọc Văn, Viện Gia đình và giới, Viện Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, sửa luật lần này nên đơn giản hóa thủ tục thuận tình ly hôn. Nếu 2 người thuận tình, không có tranh chấp về tài sản, con cái thì chỉ cần ra xã, phường giải quyết là được, không nhất thiết yêu cầu người dân phải đến tòa án, thủ tục rườm rà quá đôi khi lại ảnh hưởng đến cả 2 bên.

Ủng hộ phương án này, ông Phạm Xuân Phương, Phó giám đốc Sở Tư pháp Hà Nội cho biết: “Việc giải quyết các trường hợp thuận tình ly hôn tại cơ quan hành chính đã được nhiều nước áp dụng. Chẳng hạn, tại Đài Loan chẳng hạn, nếu  thuận tình ly hôn thì hai người chỉ cần ra xã trưởng. Chính quyền cấp xã đồng ý cho hai người ly hôn và ghi luôn vào sổ hộ tịch là xong”.

Cũng theo ông Phạm Xuân Phương, đã đến lúc hành chính hóa với các trường hợp thuận tình ly hôn, không nên nặng nề rằng tất cả mọi việc đều phải ra tòa. “Đây sẽ là một bước đột phá hành chính rất lớn bởi việc  giải quyết tại cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ đơn giản hơn rất nhiều so với giải quyết tại tòa án” – ông Phương nhận định.

Luật sư Đỗ Ngọc Thịnh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Liên đoàn Luật sư Việt Nam  và luật sư Nguyễn Chiến, Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư Hà Nội đều đồng tình với phương án này và cho rằng đó là một quy định rất tiến bộ. Tuy nhiên, luật sư Nguyễn Chiến đề xuất nên để các trường hợp thuận tình ly hôn có quyền lựa chọn Cơ quan đăng ký hộ tịch hoặc tòa án để đề phòng các trường hợp tranh chấp phát sinh sau ly hôn.

Cũng lo ngại các tranh chấp phát sinh hậu ly hôn, ông Tưởng Duy Lượng, Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao đặt câu hỏi ai sẽ là người thi hành các quyết định ly hôn đó. Mặc dù hoan nghênh đề xuất giải quyết việc thuận tình ly hôn bằng con đường hành chính sẽ giảm áp lực quá tải cho các tòa án nhưng ông Tưởng Duy Lượng lo ngại với trình độ của cán bộ cấp xã hiện nay, “Nếu hai người thỏa thuận chưa rõ mà chính quyền vẫn công nhận rồi sau này xảy ra tranh chấp thì giải quyết thế nào?”.

Về vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường nhận định: đề xuất giải quyết ly hôn thuận tình tại cơ quan đăng ký hộ tịch là vấn đề mới đối với Việt Nam nhưng nhiều nước trên thế giới đã có kinh nghiệm thực hiện. Đương nhiên, với trình độ cán bộ cấp xã như hiện nay thì lo ngại của Phó chánh án TANDTC Tưởng Duy Lượng không phải là không có cơ sở.

“Tuy nhiên, trong điều kiện chúng ta cũng đang tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp cấp xã, dự thảo Luật Hộ tịch chuẩn bị báo cáo Chính phủ cũng có hướng có chức  danh hộ tịch viên riêng thì đề xuất giải quyết các trường hợp thuận tình ly hôn tại cơ quan đăng ký hộ tịch là một phương án giảm quá tải rất nhiều cho ngành tòa án”. Bộ trưởng Hà Hùng Cường cũng cho biết Ban soạn thảo dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình sẽ cân nhắc thêm các điều kiện cụ thể đối với đề xuất này.

Theo Dantri

Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2013

CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Văn Nam

Thực dân Pháp khi xâm chiếm đất nước ta đã có những chủ trương ưu đãi tôn giáo. Dùng chính sách tôn giáo chia để trị, phân biệt bộ phận Kitô giáo và không Kitô giáo. Nhằm chống lại âm mưu thâm độc của chủ nghĩa thực dân, từ khi ra đời. Đảng ta đã lưu ý vấn đề tôn giáo, tuyên bố tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, đồng thời chống lại việc thực dân Pháp lien kết các tổ chức tôn giáo chống lại nhân dân ta. Trong một số tác phẩm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh nhằm vạch trần âm mưu câu kết của chủ nghĩa thực dân Pháp và Giáo hội công giáo trong quá trình xâm lược và quá trình áp bức, bóc lột nhân dân Việt Nam. Trong Cương Lĩnh của mặt trân Việt Minh đã thể hiện rõ: “Ban bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại trong nước, tự do xuất dương, Bỏ chế độ bắt phu”.

Cách Mạng tháng Tám thành công, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc ý nghĩa của khối đại đoàn kết toàn dân đối với công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, cũng như của tinh thần độc lập, tự do của mọi người. Nên chỉ một ngày sau khi tuyên bố độc lập ngày 3 tháng 9 năm 1945, trong phiên họp của Chính Phủ người đề ra Những nhiệm vụ cấp bách của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, khẳng định quyền công dân của tất cả mọi người. “Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giáu nghèo, tôn giáo, dòng giống”. đó là quá trình tổng kết thực lí luận và thực tiễn để có một khẳng định vô cùng sáng suốt, nhân dân theo tôn giáo cũng có những quyền và nghĩa vụ bình đẳng với người không theo tôn giáo, những người theo tôn giáo cũng được tư do ứng cử và bầu cử theo quy định của pháp luật, cho thấy cái nhân đạo xã hội chủ nghĩa. Đồng bào giáo dân cũng có nhiệm vụ bảo vệ Tổ Quốc. Nhận thấy tầm quan trọng của khối đoàn kết tôn giáo. Trong sáu vấn đề người đặt hẳn một vấn để: “Vấn đề thứ sáu: Thực dân và phong kiến thực hiện chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đông bào Lương để dễ thống trị, Tôi đề nghị chính phủ ta tuyên bố Tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết”. Tinh thần đó được ghi trong Hiến Pháp của nước Việt Nam dân chủ Cộng Hòa năm 1946: “nhân dân ta có quyền tự do tín ngưỡng” và trong chính cương của mặt trân Liên Việt, ở điều 7, điểm 1: “Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng, cho mọi người”, điều này sau được ghi lại trong Chính Cương của Đảng lao động Việt Nam “Điều 8 tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của công dân” tinh thần đó được thể hiện trong tám điều mệnh lệnh của Chính Phủ Việt Nam dân chủ Cộng Hòa: “Điều 4 bảo vệ đền chùa, nhà thờ, trường học, nhà thương và các cơ quan văn hóa xã hội khác… Chính quyền quân đội và đoàn thể phải tôn trọng tín ngưỡng, phong tục tập quán của đồng bào”.

Chính quyền non trẻ của đất nước đã khẳng định một nguyên tắc bất di bất dịch là đoàn kết, bình đẳng. mọi người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo và không theo một tôn giáo. Trong hoàn cảnh kẻ thù luôn lợi dụng các tổ chức tôn giáo chông phá kháng chiến, phá hoại hòa bình thống nhất, độc lập, dân chủ Điều 7 ghi rõ “Pháp sẽ trừng trị những kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác, hoặc làm những việc khác trái pháp luật. nhà nước ta nắm tình hình đó đã thực hiện chính sách một cách triệt để, đã thực có kết quả trong những năm chống Mỹ cứu nước” về cơ bản đảm bảo được sự đoàn kết của những người không tín ngưỡng tôn giáo và những người thuộc các tín ngưỡng tôn giáo khác nhau vì mục đích giải phóng và thống nhất dân tộc Việt Nam.

Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng đời sống trở lại bình thường, tiếp theo là những thay đổi to lớn trong đời sống xã hội đã khiến trong đời sống và nhận thực tôn giáo của nhân dân có nhiều chuyển biến to lớn. người dân phải lo toan những nhu cầu đời thường, bình dị, nhưng thân thương, trong đó có nhu cầu tôn giáo. Đời sống tôn giáo nhộn nhịp trở lại từ trong gia đình đến ngoài xã hội. do kinh nghiệm của thời kỳ kháng chiến, những quần chúng tín đồ có đạo cũng thấy mình phải lo phần đạo như phần đời của mình, giữ đạo được trong sáng, không nghe lời của kẻ xấu, tin tưởng vào chế độ, tin tưởng vào cách mạng.

Đảng và nhà nước đã thấy được điều đó, đã mở ra một hướng đúng theo tinh thần của chủ tịch Hồ Chí Minh về chính sách tự do tín ngưỡng tôn giáo, thỏa mãn nhu cầu chính đáng về tôn giáo của bộ phận quần chúng nhân dân, đã thấy được đạo đức tôn giáo có những điểm phù hợp nhất định đối với chủ nghĩa xã hội. điều đó được quán triệt trước sau như một, thể hiện ngày càng đầy đủ và cụ thể trong các văn kiện Đại Hội Đảng, trong hiến pháp nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và trong các văn kiện khác của Đảng và Chính Phủ. Trong báo cáo ban chấp hành trung ương khóa 6 tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 7 có nêu: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, Đảng và nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo… Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành vi vi phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, cản trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân”. Trong hiến pháp nhà nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, điều 70 có ghi: “công dân có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. những nơi thờ tự của tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ, không ai được tự do xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của nhà nước”. Gần đây chỉ thị sô 37/BCT(1998) của bộ chính trị về công tác tôn giáo trong tình hình mới (ngày 2-7-1998) cũng như nghị định sô 26/1999/NĐCP ban hành ngày 19 tháng 4 năm 1999 đã cụ thể hóa tinh thần của những văn bản trên, đã được toàn dân đón nhận và mong muốn Chính Phủ ban hành một pháp lệnh, tiến tới một bộ luật về tôn giáo.

Tóm lại những nguyên tắc của Đảng Cộng Sản Việt Nam và nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa nêu ra thể hiện chủ trương nhà nước Việt Nam là một nhà nước theo thể chế thế tục. mọi công dân được quyền lựa chọn một tín ngưỡng tôn giáo nhất định mà mình tin theo hoặc không tin theo tín ngưỡng tôn giáo nào. Tôn giáo tách khỏi nhà nước, nhà thờ tách khỏi nhà trường. Tôn giáo là công việc riêng tư. Mọi người là công dân một nước phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật do nhà nước quy định. Để đảm bảo thực hiện tốt chính sách tôn giáo hiện nay cả hai phía nhà nước và người dân phải đặt vấn đề tôn giáo trong vấn đề dân tộc. Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc thì vấn đề tôn giáo gắn liền với cuộc kháng chiến, chống giặc ngoại xâm. Hiên nay khi đất nước hòa bình và đi vào công cuộc hiện đại hóa đất nước, đất nước hòa mình vào quá trình toàn cầu hóa thì tôn giáo lại đóng vai trò là một tín ngưỡng lại càng trở nên quan tâm và cần được Đảng chú trọng và quan tâm. Hiện nay các thế lực chống đối ở trong và ngoài nước chưa từ bỏ việc lợi dụng tôn giáo đề làm mất ổn định chính trị gây hoang mang chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Đặc biệt là các đối tượng cơ hội chính trị luôn lấy cớ là chính quyền nhân dân cướp đất xua đuổi giáo dân chiếm đất để làm dự án dẫn đến giáo dân tập trung biểu tình chống chính quyền, gây mất trật tự công cộng. nhà nước ta cần có những biện pháp phù hợp và nắm tình hình, trong đó công tác nắm tình hình tâm tư nguyện vọng của giáo dân cần được nắm biết kịp thời, đúng đắn. trong đo công tác vận động giáo dân hiểu luật và chấp hành pháp luật của nhà nước một cách nghiêm chỉnh, chính sách đất đai và cơ chế phù hợp mềm dẻo. vấn đề tôn giáo tại các vùng dân tộc thiểu sô rất quan trọng và phưc tạp hiện nay, giải quyết vấn đề dân tộc đã khó giải quyết cả hai vấn đề tôn giáo và dân tộc lại càng khó khăn, khi tình hình hiện nay các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động quá trình tự chuyển hóa, dẫn đến thành lập một nhà nước tự trị là lực lượng đối lập với Đảng Cộng Sản Việt Nam, nó đe dọa tới nền vững mạnh và vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Khi nhà nước không còn vững mạnh thì các nước phương tây sẽ lợi dụng vấn đề này và can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta qua đó xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo phải nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, xây dựng bảo vệ vững chắc tổ quốc, vì mục đích dân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng dân chủ, văn minh. Vấn đề theo đạo và truyền đạo, mọi tín đồ có quyền tự do hành đạo taij gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. các tổ chức tôn giáo được nhà nước thừa nhận hoạt đọng theo pháp luật và đước pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa và xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng pháp luật. việc theo đạo và truyền đạo cũng như mọi hoạt đọng tôn giáo khác đều phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật, không được lợi dụng tôn giáo truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của hiến pháp và pháp luật.

BẢN CHẤT CÁCH MẠNG CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY


Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Việt Nam bao gồm có lực lượng vũ trang chuyên trách và lực lượng vũ trang bán chuyên trách của nhân dân Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý, có nhiệm vụ chiến đấu giành và giữ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự toàn xã hội, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và những thành quả của cách mạng, cùng toàn dân xây dựng đất nước. Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam gồm: LLVT nhân dân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng), Dân quân tự vệ và Công an nhân dân.


 1




          LLVTND là một đội quân kiểu mới, sinh ra và phát triển từ các đội vũ trang cách mạng, do Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; được nhân dân nuôi dưỡng, đùm bọc. Chính vì vậy, LLVTND Việt Nam luôn mang đậm bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân; luôn chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện đổi mới toàn diện đất nước, chủ động mở cửa, hội nhập hiện nay đòi hỏi phải tập trung xây dựng LLVTND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ “Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN” hiện nay.


 


 2




          Nghiên cứu về chất cách mạng của LLVTND, trước hết cân phải đề cập là ở hệ tư tưởng. Đó là Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, đồng thời cũng là của LLVT nước ta. Do vậy, biểu hiện cơ bản của bản chất cách mạng của LLVT ta là kiên định mục tiêu lý tưởng, nhiệm vụ cách mạng, con đường đi lên CNXH của Đảng, Nhà nước ta. Chấp hành nghiêm túc mọi nghị quyết, chỉ thị và nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.





          Bản chất cách mạng của LLVTND còn thể hiện qua các mối quan hệ máu thịt với Đảng, với nhân dân. Mối quan hệ cơ bản, hàng đầu luôn luôn phải tuân thủ “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”; quan hệ quân với dân “như cá với nước”; quan hệ giữa quân sự và chính trị, trong đó phải đặt xây dựng về chính trị lên hàng đầu. Do vậy, phải luôn coi trọng việc xây dựng LLVT mạnh về chính trị làm nền tảng để xây dựng LLVT vững mạnh về mọi mặt; đảm bảo cho LLVT ta mãi mãi là lực lượng chính trị trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân, đủ sức mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong mọi hoàn cảnh. Điều đó càng trở nên đặc biệt quan trọng khi nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc hiện nay không chỉ là bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ mà còn là bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN. Có như vậy, LLVT ta mới có bản lĩnh vững vàng, không chỉ thiện chiến trong đấu tranh vũ trang mà còn giỏi trong đấu tranh chính trị làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.


 


 3





          Tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều bất trắc, khó lường. Nước ta đã đạt được nhiều thành tựu của sự nghiệp đổi mới, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, tích cực mở cửa hội nhập quốc tế sâu rộng. Chính trị nước ta ổn định, kinh tế ngày càng phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao. Địa vị pháp lí, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng vững chắc. Tuy vậy, đất nước ta vẫn còn đối mặt với nhiều yếu kém về kinh tế-văn hóa-xã hội. Tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, suy thoái tư tưởng đạo đức một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… diễn biến phức tạp, đã và đang là những yếu tố tiềm ẩn “gây mất ổn định chính trị-xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia”


4


 




          Bên cạnh đó là các thế lực thù địch, phản động đang ra sức thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” và thúc đẩy phân hóa nội bộ, khiến chúng ta phải đối mặt với những khó khăn thách thức mới. Một trong những mục tiêu hàng đầu của các thế lực thù địch là tìm cách hạn chế, từng bước xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với LLVTND ta. Để ngụy biện cho âm mưu, hoạt động của chúng, các thế lực chống đối đã đưa ra các luận điệu ngụy biện như: “Quốc gia hóa quân đội”, “Phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”, “Quân đội chỉ bảo vệ Tổ quốc”, “Quân đội dân tộc”… Chính vì vậy, việc giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng của LLVTND Việt Nam hiện nay là vô cùng cần thiết, là một bộ phận quan trọng của cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa vừa cấp bách, vừa lâu dài và cần được tiến hành có hệ thống. Để giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng cho LLVTND nước ta trong giai đoạn hiện nay, theo chúng tôi cần quán triệt mạnh mẽ một số nội dung sau:




          Một là, kiên quyết giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện về mọi mặt của Đảng ta đối với LLVTND là nhân tố hàng đầu góp phần quan trọng vào sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong thời kì mới.





          Điều 4, Hiến pháp 1992 (sửa đổi) đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” [1]. Có thể thấy, đây là nguyên tắc có ý nghĩa sống còn đảm bảo bản chất cách mạng, anh hùng, bất khuất của LLVT nước ta. Do đó, trong mọi điều kiện hoàn cảnh khác nhau, LLVT nước nhà phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lí tối cao của Nhà nước góp phần xây dựng LLVT cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì độc lập tự do của đất nước, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam kể từ khi có Đảng đã khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam nói chung, của sự nghiệp quốc phòng, an ninh nói riêng.





          Hai là, tăng cường công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho độ ngũ cán bộ, chiến sĩ trong các đơn vị LLVTND các cấp nhằm tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức cũng như trong hành động, góp phần tăng cường sức mạnh chiến đấu LLVTND trong lĩnh vực quốc phòng-an ninh, bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia trong tình hình mới.


 


 5




          Nội dung của công tác này là việc tuyên truyền, học tập, nâng cao nhận thức cho đội ngũ LLVTND nắm vững chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; giáo dục chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, quán triệt mạnh mẽ mục tiêu lý tưởng chính trị cho LLVT, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng, trình độ và bản lĩnh cho cán bộ, chiến sĩ. Đây chính là cơ sở quan trọng đảm bảo cho LLVT hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước.





          Ba là, tiếp tục đầu tư, hoàn thiện, phấn đấu xây dựng LLVTND Việt Nam đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.




          Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược bảo vệ Tổ quốc”[2]. Để bản chất cách mạng của LLVT nước ta luôn được giữ vững và tăng cường, nhiệm vụ giáo dục ý thức, tinh thần yêu nước, anh hùng bất khuất, kiên cường là rất quan trọng. Tuy nhiên, để đảm bảo cho sự phát triển nhanh, bền vững của LLVTND Việt Nam, yêu cầu đầu tư, từng bước hiện đại hóa phục vụ tốt cho công tác chiến đấu cũng quan trọng không kém. Lý luận về duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra rằng: vật chất, ý thức luôn cùng tồn tại song hành, luôn có sự vận động, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó, vật chất luôn quyết định ý thức. Đây chính là vấn đề cốt lõi, căn nguyên của mọi vấn đề trong xây dựng, phát triển LLVTND cách mạng thời kì mới.




          Bốn là, phát huy vai trò trách nhiệm, chủ động, tích cực của nhân dân ta trong giữ gìn, xây dựng, không ngừng tăng cường bản chất cách mạng của LLVT hiện nay.





          Có thể thấy rõ, sức mạnh tổng hợp của LLVT nhân dân ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là sự kết tinh, phản ánh sức mạnh của chế độ chính trị, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của trí tuệ và sức lực con người Việt Nam, của truyền thống dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước ta. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc là nền tảng vững chắc, là sức mạnh nguồn cội để xây dựng bản chất cách mạng của LLVTND Việt Nam. Ngay chính tên gọi các đơn vị LLVT đã chứa đựng từ “Nhân dân”, nó là minh chứng rõ nét về vai trò, sự đóng góp to lớn của nhân dân ta trong thành lập, xây dựng, phát triển ngày càng mạnh mẽ của LLVT các cấp. LLVTND Việt Nam “Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ và dựa vào nhân dân mà làm việc”. Phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng bản LLVT đất nước cần phải tiến hành đồng bộ theo nhiều phương hướng khác nhau. Chúng ta vừa huy động sự đóng góp của nhân dân không chỉ về mặt nhân lực, nguồn vật chất to lớn mà còn phải tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào các hoạt động kiểm tra, giám sát, tích cực góp ý kiến nhằm đảm bảo hoạt động tự chủ, trách nhiệm của nhân dân ta trong xây dựng LLVTND ngày càng cách mạng, thật sự vững mạnh trong thời đại XHCN đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.


 


 


 6



          Tóm lược lại, chúng ta thấy bản chất cách mạng của LLVTND ta là rất vĩ đại, vẻ vang. Lich sử chiến xây dựng, chiến đấu và trưởng thành trong gần 70 năm qua đã chứng minh, trong bất cứ hoàn cảnh nào, LLVT ta cũng luôn nêu cao bản chất của một đội quân cách mạng, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xây đắp nên truyền thống kiên cường, bất khuất của LLVT nước ta. Đứng trước yêu cầu bức thiết của của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cùng với sự tấn công chống phá của các thế lực thù địch trên các mặt đối với LLVT nước ta trong tình hình hiện nay, yêu cầu giữ gìn, tăng cường bản chất cách mạng cho LLVTND Việt Nam các cấp là yêu cầu quan trọng, cấp bách hơn lúc nào hết./.




 




                                                                                                                   Phillip Tran




 


 


[1]. Ủy ban thường vụ quốc hội, Hiến pháp năm 1992.




[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại họi đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb CTQG, H., 2011.

Thứ Năm, 21 tháng 3, 2013

VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN TRONG THỜI ĐẠI MỚI

Sen Hong


"Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội". Thanh niên chúng ta là mùa xuân là sức sống muôn màu trường cửu của nhân gian, của đất nước anh hùng. Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn niềm tin vào thế  hệ  trẻ  trong  sự  nghiệp  dựng  nước và giữ nước của dân tộc, Người khẳng định: "Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một  phần lớn là do thanh niên". Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người đã căn dặn: "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết, Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng", vừa "chuyên". Vậy nên, Thanh niên chúng ta chính là nguyên khí của quốc gia, là vận mệnh của dân tộc .

Capture

Quán triệt tư tưởng của Người, từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn đề cao vai trò, vị trí của Thanh niên, xác định Thanh niên là lực lượng xung kích cách mạng, Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng, công tác Thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc. Đồng thời, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức, xây dựng Thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh thành lực lượng hùng hậu, trung thành, kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Trải qua biết bao giai đoạn biến cố và thăng trầm của lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, của Chủ Tịch Hồ Chí Minh kính yêu, Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, lực lượng Thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh được xây dựng, rèn luyện nên đã phát triển không ngừng lớn mạnh cả về tư tưởng và tổ chức, hoàn thành thắng lợi vai trò là hạt nhân chính trị vững mạnh,  luôn nêu cao truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với Đảng, trở thành lực lượng xung kích của cách mạng, lập nên bao chiến công huy hoàng, cùng với toàn dân tộc làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 long trời chuyển đất, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc. Tiếp đó, trong suốt 30 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược để bảo vệ nền độc lập của dân tộc, lớp lớp Thanh niên Việt Nam, ở tiền tuyến cũng như hậu phương, đã hăng hái vượt qua biết bao khó khăn, thử thách, không ngại hiểm nguy với khí phách hiên ngang "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" và tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" đã làm nên những chiến công hiển hách lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Hàng loạt những phong trào "Ba sẵn sàng", "Năm xung phong", "Xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch năm năm lần thứ nhất", "Hát cho đồng bào tôi nghe",  những khẩu hiệu "Nhằm thẳng quân thù mà bắn", "Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến chống quân thù" đã đi vào lòng người. Rất nhiều chiến sĩ, liệt sĩ có danh và vô danh là Đoàn viên, Thanh niên đã xả thân vì độc lập, tự do cho Tổ quốc. Sau đại thắng mùa xuân 1975, Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh đã tích cực tổ chức các phong trào thi đua học tập, góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế - xã hội. Tiêu biểu là các hoạt động xung kích, giữ gìn trật tự trị an, các phong trào xây dựng tập thể học sinh xã hội chủ nghĩa, thực hiện nếp sống mới văn minh tiên tiến. Góp phần to lớn trong sự nghiệp đổi mới đất nước , đưa nước ta tiến lên một tầm cao mới sánh vai với các nước bạn năm châu trên thế giới. Đảng và Nhà nước ta luôn đánh giá cao những cống hiến đó của thế hệ trẻ, đã tặng thưởng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào Thanh niên nước ta nhiều phần thưởng cao quý:  Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng.

Bước sang thế kỷ XXI, nền kinh tế nước ta chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức với xu thế toàn cầu hóa, vị thế của Việt Nam đã được nâng cao trên trường quốc tế, tuy nhiên xu thế toàn cầu hóa cũng đã đặt ra thời cơ, vận hội và cả những khó khăn, thách thức to lớn. Đây là điều kiện thuận lợi cho Thanh niên nước ta phát huy tài năng, sức lực và trí tuệ của tuổi trẻ để khẳng định mình, để trưởng thành và cống hiến cho đất nước. Tại Đại Hội Đảng lần thứ XI Đảng ta đã khẳng định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước có thành công hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường Xã Hội Chủ Nghĩa hay không phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng Thanh niên. Và thế hệ sinh ra trong hoà bình sẽ dần dần thay thế đội ngũ cán bộ Đảng và Nhà Nước, những người đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, có nghĩa là về mặt nguyên tắc sứ mệnh làm chủ đất nước đã được định đoạt, trao lại cho thế hệ trẻ. Bởi thế hệ Thanh niên ngày nay được sống, học tập, lao động trong môi trường hòa bình, được thừa hưởng những thành quả của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, được cống hiến và trưởng thành trong sự ổn định về chính trị, sự phát triển vũng chắc của kinh tế xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện, được gia đình và xã hội dành cho nhiều cơ hội học tập để có trình độ văn hóa, chuyên môn cao hơn các lớp Thanh niên đi trước. Những lợi thế đó là hành trang giúp Thanh niên vững bước tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thanh niên đã và đang cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu cho lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội , vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thanh niên Việt Nam ngày nay mang trên vai trọng trách lịch sử to lớn, tiếp tục phát huy truyền thống vinh quang của thế hệ cha anh và trở thành lực lượng lao động có trí tuệ và có tay nghề cao, có đạo đức và lối sống trong sáng, có sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần cường tráng để đưa Việt Nam Sánh vai với các cường quốc năm châu như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thanh niên đang tự khẳng định mình và đang dần dần xóa bỏ ranh giới tụt hậu để sánh vai ngang bằng với Thanh niên các nước trên thế giới, đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Khi đất nước đang chuyển mình hội nhập quốc tế thì đòi hỏi thế hệ Thanh niên phải có tinh thần trách nhiệm và ý thức tự giác cao hơn nữa, có ý thức tự học , tự rèn luyện, tự tin , tự chịu trách nhiệm để trở thành nguồn lao động chất lượng cao , trở thành người thừa kế trung thành sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc :

Thứ nhất, Thanh niên phải tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, bồi đắp lý tưởng cách mạng trong sáng. Bối cảnh trong nước và quốc tế đang tác động lên tất cả các đối tượng Thanh niên, tác động một cách toàn diện lên tư tưởng, tình cảm, lối sống, nhu cầu của từng Thanh niên. Do đó, Thanh niên phải rèn luyện để có lập trường tư tưởng vững vàng, có lòng yêu nước, có niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội, sự thắng lợi tất yếu của Chủ Nghĩa Cộng Sản ở Việt Nam, có đạo đức trong sáng và lối sống lành mạnh, tích cực tham gia vào các cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đấu tranh chống lại âm mưu "Diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch và các tiêu cực, tệ nạn xã hội, tham nhũng .

Thứ hai, Thanh niên cần tích cực học tập và tự học tập để nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học, kỹ thuật và tay nghề. Trong thời kỳ phát triển kinh tế xã hội trong nước và hội nhập quốc tế, Thanh niên nước ta cần nâng cao trình độ học vấn, tay nghề, khả năng thực tế, kỹ năng lao động để thích ứng với thị trường lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế. Thanh niên phải tích cực tham gia xây dựng xã hội học tập với phương châm: Người Thanh niên nào cũng phải học dù ở đâu, làm gì, thời gian nào cũng phải học, người Thanh niên nào cũng phải xác định tham gia học tập thường xuyên, suốt đời là quyền và nghĩa vụ của bản thân .

Thứ ba, Thanh niên phải tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Thanh niên phải tích cực tham gia bảo vệ và xây dựng hệ thống chính trị ở các cấp vững mạnh và tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc. Thanh niên tự nguyện, tự giác tham gia vào các hội của Thanh niên, phấn đấu trở thành Đoàn viên, Đảng viên của Đảng và hội viên của các tổ chức quần chúng nhân dân .

Thứ tư, Thanh niên phải tích cực tham gia vào việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh và môi trường sinh thái trong lành, sạch đẹp. Tích cực tham gia phòng, chống ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.

Thứ năm, Thanh niên phải xung kích, đi đầu trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tích cực tham gia các chương trình, dự án của địa phương, tự nguyện, tự giác tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự, tham gia các hoạt động bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Thứ sáu, Thanh niên cần chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế, tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, tham gia vào công tác ngoại giao nhân dân để nâng tầm ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế, giới thiệu về bản sắc văn hóa Việt Nam thông qua các trang mạng phổ thông như: Blog, Face Book,.v.v.. chủ động và tham gia có hiệu quả vào giải quyết các vấn đề toàn cầu như: Giữ gìn hoà bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, hạn chế sự bùng nổ dân số, phòng ngừa và đẩy lùi các dịch bệnh hiểm nghèo, hướng tới sự phát triển lành mạnh, trong sáng, đóng góp to lớn cho sự phát triển thinh vượng của nước nhà.

Tiến bước trên con đường vinh quang, dưới sự lãnh đạo của Đảng và tư tưởng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh kính yêu luôn là kim chỉ nam xuyên suốt chặng đường cách mạng của đất nước ta. Chiến công của cha anh đã làm nên truyền thống, làm nên trang sử vàng của dân tộc. Các thế hệ cha anh đã dựng nên đất nước, thế hệ Thanh niên ngày nay phải ra sức giữ lấy nước. Cách mạng nước ta đang chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Mục tiêu đó đã và đang đặt ra những yêu cầu, trọng trách lớn lao đối với thế hệ trẻ hôm nay. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang đó, Thanh Niên thế hệ Hồ Chí Minh ngày nay nói chung, Thanh Niên thế hệ Hồ Chí Minh Học Viện An Ninh Nhân Dân nói riêng phải phấn đấu trở thành những người giàu về trí tuệ, giỏi về chuyên môn, lí luận, nghiệp vụ, "vừa Hồng vừa Chuyên" , phải có lòng yêu quê hương, đất nước, yêu những giá trị lịch sử và truyền thống văn hoá của dân tộc được khởi thuỷ từ dòng máu Lạc Hồng, được hun đúc qua 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, được nhân lên gấp bội trong thời đại Hồ Chí Minh. Thanh niên chúng ta cần phải không ngừng tu dưỡng rèn luyện để có phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, biết giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá và những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, biết tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá nhân loại, có chí tiến thủ, có lòng quyết tâm, có tinh thần đoàn kết, sự năng động sáng tạo, biết vượt lên mọi hoàn cảnh để học tập, lao động, sản xuất với sức mạnh dời non lấp biển và tinh thần "Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta, mà cần hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay". Hãy ra sức học tập và cống hiến hết mình cho tổ quốc, tương lai của nước nhà, đưa đất nước ta trở thành cường quốc của dân tộc anh hùng. Truyền thống vẻ vang, hào hùng của dân tộc ta phải được thế hệ trẻ phát huy và phải đưa nó trở thành một trong những nền tảng lớn của tinh hoa nhân loại, đó là sứ mệnh vĩ đại và thiêng liêng của thế hệ Thanh niên chúng ta  –  Thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh.

 

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

NHẬN DIỆN VỀ ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CHỐNG VIỆT NAM

   Phillip Tran


“Diễn biến hoà bình” có thể hiểu khái quát là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong bằng biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tiến hành.

 Capture


Đối với Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn coi nước ta là một mục tiêu trọng điểm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm chống phá, từng bước xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới lật đổ chế độ, Nhà nước Cộng hòa chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống Việt Nam gắn với các giai đoạn lịch sử quan trọng trong mối quan hệ giữa Việt Nam - Mỹ, mà cụ thể là:

Một là, từ đầu năm 1950 đến 1975: chủ nghĩa đế quốc dùng quân sự để xâm lược và muốn biến Việt Nam thành thuộc địa vĩnh viễn của chúng nhưng cuối cùng đã bị thất bại hoàn toàn. Âm mưu không thành, chúng chuyển sang chiến lược mới như: “bao vây cấm vận kinh tế”, “cô lập về ngoại giao”, kết hợp với “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Hai là, từ năm 1975- 1994: lợi dụng nước ta gặp nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội do hậu quả của chiến tranh để lại và sự biến động chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông âu, và các thế lực thù địch càng ráo riết đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam.

Ba là, từ năm 1995 đến nay: trước những thắng lợi to lớn của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, các thế lực thù địch lại tiếp tục điều chỉnh thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta. Chúng tuyên bố xoá bỏ “cấm vận kinh tế”, bình thường hoá quan hệ ngoại giao để chuyển sang thủ đoạn mới, đẩy mạnh hoạt động xâm nhập như “dính líu”, “ngầm”, “sâu, hiểm” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.


Mục tiêu nhất quán của chủbiểu tình, bieu tinh nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong sử dụng chiến lược “Diễn biến hòa bình”đối với cách mạng Việt Nam là thực hiện âm mưu xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lái nước ta theo con đường chủ nghĩa tư bản và lệ thuộc vào chúng…Để đạt được mục tiêu đó, các thế lực thù địch không từ bỏ bất kỳ thủ đoạn chống phá nào như sử dụng bạo lực phi vũ trang, bạo lực vũ trang, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội … Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta hiện nay là toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, tinh vi, thâm độc và nhiều thủ đoạn tinh vi khó nhận biết cụ thể:

Về chính trị: Các thế lực thù địch kích động đòi thực hiện chế độ “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, “tự do hoá” mọi mặt đời sống xã hội, từng bước phá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chúng tập hợp, nuôi dưỡng các tổ chức, phần tử phản động trong nước và ngoài nước, lợi dụng các vấn đề “dân chủ’, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân và khối đại đoàn kết dân tộc, làm mất đi vai trò lãnh đạo của Đảng. Tận dụng những sơ hở trong đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước ta, sẵn sàng can thiệp trắng trợn bằng sức mạnh quân sự để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trên lĩnh vực kinh tế: Chúng muốn chuyển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dần theo quĩ đạo kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, khích lệ thành phần kinh tế tư nhân phát triển, từng bước làm mất vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước. Lợi dụng sự giúp đỡ, viện trợ kinh tế, đầu tư vốn, chuyển giao công nghệ cho Việt Nam để đặt ra các điều kiện và gây sức ép về chính trị, từng bước chuyển hoá Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa

Lĩnh vực văn hóa- tư tưởng: Chúng thực hiện nhiều hoạt động nhằm xoá bỏ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Phá vỡ nền tảng tư tưởng cuả Đảng cộng sản Việt Nam, ra sức truyền bá tư tưởng tư sản vào các tầng lớp nhân dân. Lợi dụng xu thế mở rộng hợp tác quốc tế, du nhập những sản phẩm văn hoá đồi trụy, lối sống phương Tây, để kích động lối sống tư bản trong thanh niên, từng bước làm phai mờ bản sắc văn hoá và giá trị văn hoá của dân tộc Việt Nam.

Lĩnh vực dân tộc – tôn giáo: Chúng lợi dụng những khó khăn ở những vùng đồng bào dân tộc ít người, những tồn tại do lịch sử để lại, trình độ dân trí của một bộ phận đồng bào còn thấp và những khuyết điểm trong thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo cuả một bộ phận cán bộ để kích động tư tưởng đòi li khai, tự quyết dân tộc. Lợi dụng chính sách tự do tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta để truyền đạo trái phép nhằm thực hiện âm mưu tôn giáo hoá dân tộc, từng bước gây mất ổn định xã hội và làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Lĩnh vực quốc phòng – an ninh: Các thế lực thù địch lợi dụng xu thế mở rộng hợp tác quốc tế, thực hiện xâm nhập, tăng cường hoạt động tình báo thu thập bí mật quốc gia. Chúng kích động đòi phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối với lực lượng vũ trang. Đối với quân đội và công an, các thế lực thù địch chủ trương vô hiệu hoá sự lãnh đạo của Đảng với luận điệu “phi chính trị hoá” làm cho các lực lượng này xa rời mục tiêu chiến đấu.

Lĩnh vực đối ngoại: Các thế lực thù địch lợi dụng chủ trương Việt Nam mở rộng hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới để tuyên truyền và hướng Việt Nam theo quĩ đạo của chủ nghĩa tư bản. Hạn chế sự mở rộng quan hệ hợp tác của Việt Nam đối với các nước trên thế giới, tìm cách ngăn cản những dự án đầu tư quốc tế vào Việt Nam. Đặc biệt chúng rất coi trọng việc chia rẽ tình đoàn kết hữu nghị giữa Việt Nam với Lào, Campuchia và các nước xã hội chủ nghĩa, hạ thấp uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Như vậy, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” diễn ra trên phạm vi rộng lớn của các lĩnh vực nhau của một quốc gia dân tôc. Đây là một chiến lược rất nguy hiểm, thâm độc, đe dọa trực tiếp đến độc lập , chủ quyền, an ninh quốc gia nước ta. Nhất là trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp như hiện nay, việc xác định chính xác về “đối tượng”, “đối tác” là rất khó khăn, đan xen, mang tính tương đối. Các thế lực thù địch đang lợi dụng các vấn đề mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực để hoạt chống phá ta. Do đó, chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác nhận diện các âm mưu, thủ đoạn của chúng nhằm tạo nền tảng về chính trị vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

 

Phillip Tran

Vụ tranh chấp đất tại phường Đội Cấn: "Nút thắt" nằm ở Thanh tra TP. Hà Nội

Sở Xây dựng có báo cáo gửi UBND TP. Hà Nội, Thành phố đã chuyển hồ sơ vụ tranh chấp nhà 17, ngõ 94, phố Ngọc Hà sang Thanh tra yêu cầu thẩm tra vụ việc từ tháng 11/2012, nhưng đến nay người dân vẫn chưa được hồi âm dù quá thời hạn nhiều ngày.


Liên quan đến vụ bán nhà Nghị định 61/CP có dấu hiệu trái pháp luật xảy ra ở nhà số 17, ngõ 94, phố Ngọc Hà, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, TP. Hà Nội mà báo Dân trí đã nhiều lần phản ánh. Trao đổi với PV Dân trí ngày 19/3/2013, đại diện Sở Xây dựng cho biết, đơn vị này đã có báo cáo gửi lên UBND TP. Hà Nội ngay sau khi Công ty Quản lý và Phát triển nhà kết thúc việc kiểm tra, rà soát hồ sơ báo cáo Sở.

Vợ chồng ông Thông yêu cầu cơ quan chức năng hủy bỏ hợp đồng mua bán

Vợ chồng ông Thông yêu cầu cơ quan chức năng hủy bỏ hợp đồng mua bán

nhà 17, ngõ 94, phố Ngọc Hà có dấu hiệu trái pháp luật

Sau khi Sở Xây dựng gửi báo cáo, lãnh đạo TP. Hà Nội đã có văn bản gửi Thanh tra TP. Hà Nội yêu cầu thẩm tra, kết luận việc bán nhà, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại số 17, ngõ 94, phố Ngọc Hà, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình.


Nội dung văn bản số 8866/UBND - TNMT đề ngày 7/11/2012, do ông Vũ Hồng Khanh, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội ký nêu rõ: “UBND Thành phố nhận được Công văn số 6298/SXD-B61 ngày 28/9/2012 của Sở Xây dựng báo cáo kết quả kiểm tra, giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Huy Thông trong việc bán nhà, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại số 17, ngõ 94, phố Ngọc Hà, quận Ba Đình theo Nghị định 61/CP của Chính phủ cho bà Công Thị Tập.


Về việc này, UBND Thành phố chỉ đạo như sau:


Giao Thanh tra Thành phố thẩm tra, kết luận việc bán nhà, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại số 17, ngõ 94, phố Ngọc Hà, quận Ba Đình theo Nghị định 61/CP của Chính phủ cho bà Công Thị Tập. Báo cáo UBND Thành phố xem xét, trả lời công dân theo quy định pháp luật”.



Văn bản chỉ đạo của Phó Chủ tịch Vũ Hồng Khanh ký ngày 7/11/2012, nhưng đã hơn 4 tháng trôi qua Thanh tra Thành phố Hà Nội chưa ra kết luận việc thẩm tra báo cáo UBND TP. Hà Nội, chưa thông báo kết quả đến công dân. Trong khi đó, theo đúng quy định thì Thanh tra Thành phố phải hoàn thành việc thẩm tra, ban hành kết luận vụ việc trong vòng 70 ngày.


Vợ chồng ông Nguyễn Huy Thông đề nghị hủy bỏ tất cả hoạt động giao dịch,

Vợ chồng ông Nguyễn Huy Thông đề nghị hủy bỏ tất cả hoạt động giao dịch,

mua bán, trao tặng sau buổi mở di chúc

Trong lúc các cơ quan chức năng chưa ban hành kết luận chính thức về vụ tranh chấp, bà Công Thị Tập đã về với thế giới bên kia mà chưa thống nhất được việc phân chia đất đai. Vì sự chậm trễ này, ngày 5/3/2013, tại trụ sở UBND phường Đội Cấn, những người con còn lại (5 người) của bà Công Thị Tập đã làm đơn đề nghị chính quyền phường mở di chúc bà Tập để lại với nội dung chia đều mảnh đất đang xảy ra tranh chấp cho 6 người con trong gia đình.


Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, vợ chồng ông Nguyễn Huy Thông làm đơn gửi UBND phường Đội Cấn đề nghị hủy bỏ tất cả hoạt động giao dịch, mua bán, trao tặng diễn ra cho đến khi cơ quan chức năng TP. Hà Nội ban hành Quyết định trả lời công dân theo đúng quy định pháp luật.


Như thông tin báo Dân trí đã đưa, ông Nguyễn Huy Thông, cùng vợ là bà Nguyễn Bích Thủy có hộ khẩu thường trú tại số 17, ngõ 94 phố Ngọc Hà, quận Ba Đình, TP. Hà Nội phản ánh: Năm 2010, vợ chồng ông Thông làm hồ sơ xin mua nhà theo nghị định 61/CP của Chính phủ đã được các hộ ở liền kề, tổ dân phố, UBND phường Đội Cấn xác nhận vào hồ sơ mua nhà và chuyển lên Xí nghiệp Quản lý và phát triển nhà Ba Đình (phiếu tiếp nhận hành chính ngày 4/06/2010).


Tuy nhiên, một thông tin gây bất ngờ được đơn vị này trả lời gia đình ông Thông là ngôi nhà trên đã được bán theo Nghị định 61/CP cho bà Công Thị Tập, cùng trú tại địa chỉ trên.


Điều trớ trêu là không hiểu vì lý do gì khi toàn bộ giấy tờ gốc của ngôi nhà đang được vợ chồng ông Thông, bà Thủy cất giữ mà Xí nghiệp Quản lý và phát triển nhà Ba Đình lại giải quyết bán nhà cho bà Công Thị Tập, khi bà Tập không có giấy tờ gốc và không được sự thỏa thuận của các thành viên có tên trong hợp đồng mua nhà.


Ngoài ra, trong hợp đồng số 570 ngày 14/4/2006, Công ty Quản lý và Phát triển nhà Hà Nội đã bán nhà cho người không liên quan gì đến ngôi nhà này. Bởi chữ ký người mua nhà lại có tên là Nguyễn Hữu Đạo, mà không phải là bà Công Thị Tập.


Về vụ việc này, trong các cuộc trao đổi với PV Dân trí, ông Hoàng Tú, Trưởng ban 61/CP - Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, theo Nghị định 61/CP là nhà chính sách cho những người đang thuê nhà, ai có tên trên hợp đồng thuê nhà trước đó sẽ được thụ hưởng tài sản đó. Trong trường hợp này, nếu ông Nguyễn Huy Thông đứng tên trên hợp đồng thuê nhà cũ và sở hữu giấy tờ gốc thì sẽ được thụ hưởng phần tài sản.


Báo Dân trí sẽ tiếp tục thông tin về vụ việc trên.


Theo dantri

BỘ TRƯỞNG ĐINH LÀ THĂNG THẤT HỨA VỚI CỬ TRI



Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng bị coi là “thất hứa” với cử tri tỉnh Đồng Nai về việc sẽ xóa bỏ trạm thu phí Định Quán vào cuối năm 2012. Song đến nay, trạm thu phí này vẫn hoạt động, thậm chí mức phí qua trạm còn tăng lên.




 




Trao đổi với Báo Người Lao động sáng nay (20-3), ông Trương Văn Vở - Phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai - cho biết, Đoàn đại biểu Quốc hội của tỉnh đã có văn bản gửi Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) Đinh La Thăng “nhắc nhở” về việc thực hiện lời hứa với cử tri tỉnh Đồng Nai trước đó là trong quý 4-2012 sẽ xóa bỏ trạm thu phí ở huyện Định Quán (giáp ranh với huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).




 









Trạm thu phí Định Quán vẫn hoạt động và mức phí qua trạm còn tăng lên




 




Theo ông Vở, lời hứa đó được Bộ trưởng Thăng đưa ra trong buổi làm việc với tỉnh Đồng Nai và Lâm Đồng vào tháng 10-2012 về việc rà soát lại các trạm thu phí trên Quốc lộ 20.




 




Sau buổi làm việc đó không lâu, Văn phòng Bộ GTVT đã có văn bản gửi Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai thông báo kết luận của Bộ trưởng Đinh La Thăng về buổi làm việc. Theo văn bản này, Bộ trưởng Thăng hứa sẽ xóa trạm thu phí Định Quán vào cuối năm 2012. Tuy nhiên, đến nay trạm thu phí vẫn hoạt động, thậm chí mức phí qua trạm còn tăng lên khiến người dân địa phương bức xúc nói “bộ trưởng thất hứa với cử tri”.




 




“Chúng tôi hiểu rằng văn bản thông báo kết luận chỉ đạo sau buổi làm việc của Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng có tính pháp lý trong ngành. Tuy nhiên đến nay chỉ đạo đó chưa được thực hiện thì chúng tôi có văn bản “nhắc” lại việc thực hiện lời hứa này. Chúng tôi là cơ quan dân cử và đang thực hiện chức năng giám sát của mình”- ông Vở nói.




 




Ông Vở cũng cho biết văn bản “nhắc nhở” được gửi hồi đầu tháng 3. Đến nay, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai vẫn đang chờ phúc đáp của Bộ trưởng Đinh La Thăng.




 




Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Lưu - Chánh văn phòng kiêm người phát ngôn Bộ GTVT - cho biết hiện vẫn chưa nhận được văn bản của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai. Ông Lưu nói khi nhận được văn bản sẽ báo cáo Bộ trưởng để xin ý kiến chỉ đạo và trả lời chi tiết về sự việc.




 




Theo Trelang

Hà Nội đóng cửa bến xe Kim Mã để làm tuyến buýt nhanh đầu tiên

Bến xe Kim Mã vừa tạm dừng để xây dựng tuyến xe buýt nhanh Yên Nghĩa - Giảng Võ - Kim Mã có chiều dài 14km, tổng giá trị đầu tư là 49 triệu USD. Dự kiến năm 2015, tuyến buýt nhanh này sẽ được đưa vào hoạt động.


Tuyến xe buýt vận chuyển nhanh khối lượng lớn đoạn tuyến số 1 có điểm đầu từ bến xe Yên Nghĩa qua Ba La - Lê Trọng Tấn - Lê Văn Lương kéo dài - Láng Hạ - Giảng Võ - bến xe Kim Mã. Để phục vụ tuyến xe buýt nhanh khối lượng lớn này, UBND thành phố Hà Nội đã quyết định điều chỉnh một số dự án như tăng cường khả năng chịu lực cầu vượt Láng Hạ - Huỳnh Thúc Kháng. Đoạn đường từ Ba La - Yên Nghĩa sẽ được cải tạo, nâng cấp mở rộng mặt bằng đường cũ đảm bảo bề rộng, tăng cường kết cấu mặt đường để tổ chức giao thông cho xe buýt nhanh hoạt động.


Hà Nội đóng cửa bến xe Kim Mã để làm tuyến buýt nhanh đầu tiên

Bến xe Kim Mã dừng hoạt động để phục vụ xây dựng nhà chờ xe buýt vận chuyển nhanh, khối lượng lớn đầu tiên của Hà Nội.


Hà Nội cũng sẽ điều chỉnh kết cấu mặt đường từ Bộ Y tế - Giang Văn Minh – Kim Mã – Giảng Võ, thay thế bằng kết cấu bê tông xi măng theo thiết kế được duyệt, thảm tăng cường lên mặt đường hiện trạng và tổ chức giao thông tại nút giao có tính đến việc hình thành đường mới nối ra Hào Nam thành ngã 5.

Đây là tuyến xe buýt nhanh đầu tiên của Hà Nội được khởi công xây dựng. Để phục vụ việc xây dựng tuyến xe buýt này, đến nay Hà Nội đã đóng cửa bến xe Kim Mã, cho phương tiện kỹ thuật vào thi công một số hạng mục quan trọng như nhà chờ xe buýt. Một số hạng mục trên hướng tuyến xe buýt chạy cũng đã được quây tôn để phục vụ thi công tuyến đường.



Các hạng mục phục vụ tuyến xe buýt nhanh cũng đang được xây dựng.
Các hạng mục phục vụ tuyến xe buýt nhanh cũng đang được xây dựng.


Theo thiết kế, xe buýt nhanh sẽ đi trên hai làn đường riêng sát dải phân cách giữa với gờ cao của trục đường khoảng 20cm. Điều đặc biệt, nhà chờ cho hành khách được đặt trên dải phân cách giữa. Tuyến xe buýt nhanh này hoạt động với tần suất khoảng 3 - 5 phút mỗi chuyến. Tốc độ trung bình chạy quãng đường 14km từ bến xe Yên Nghĩa đến Kim Mã là 22km/h. Số lượng xe buýt nhanh khối lượng lớn phục vụ là là 35 xe. Mỗi lượt xe buýt chở với công suất 90 hành khách/chuyến. Các xe đều có hệ thống GPS, kết nối với Trung tâm điều hành để giải quyết các sự cố có thể phát sinh.




Tại bến xe Yên Nghĩa hệ thống nhà chờ đón đầu tuyến buýt nhanh được xây dựng khá hoàn thiện.

Tại bến xe Yên Nghĩa hệ thống nhà chờ đón đầu tuyến buýt nhanh được xây dựng khá hoàn thiện.

 

Tổng đầu tư của dự án bao gồm xây dựng hạ tầng, nhà chờ, phương tiện... là 49 triệu USD bằng vốn vay của Ngân hàng Thế giới, trong đó Việt Nam góp vốn đối ứng bằng chi phí giải phóng mặt bằng. Dự kiến tuyến xe buýt nhanh này sẽ hoạt động từ đầu năm 2015.

Hà Nội cũng sẽ xây dựng 3 cầu vượt đi bộ trên tuyến đường này để thuận tiện cho hành khách tiếp cận nhà chờ xe buýt.

Theo dantri

Đội ngũ sĩ quan phải là lực lượng nòng cốt trong xây dựng quân đội

Đó là ý kiến chỉ đạo của Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (TCCT) tại Hội nghị tham gia dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) do Ban Soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan QĐNDVN tổ chức sáng 20-3.

Dự hội nghị có các đồng chí: Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm TCCT; Trung tướng Lương Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm TCCT và đại biểu các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng (BQP), Quân khu 1, Quân khu 2, Quân khu 3, Quân đoàn 1...

Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Sĩ quan QĐNDVN được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 3-6-2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2008.

Sau gần 5 năm thực hiện, Luật đã cơ bản đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ sĩ quan, bảo đảm số lượng và cơ cấu hợp lý, chất lượng được nâng lên; các chế độ, chính sách từng bước được cải thiện, góp phần để quân đội hoàn thành nhiệm vụ chính trị.

 

Capture

 

Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện Luật Sĩ quan QĐNDVN năm 2008 đã bộc lộ những khó khăn, vướng mắc và bất cập cần sửa đổi, bổ sung đó là: Chức vụ cơ bản của sĩ quan theo Luật hiện hành là 11 nhóm, trong khi phụ cấp chức vụ lại quy định 14 nhóm, dẫn đến việc chồng chéo, bất cập trong ban hành nghị định, quyết định về nhóm phụ cấp của các chức vụ tương đương còn lại. Tuổi phục vụ tại ngũ theo cấp bậc quân hàm của sĩ quan nữ cấp tá, cấp tướng chưa phù hợp với yêu cầu sử dụng trong thời bình và xây dựng đội ngũ sĩ quan. Cùng với đó, việc phong, tăng quân hàm cấp tướng, theo chỉ đạo của Bộ Chính trị cần đưa các chức vụ có bậc quân hàm cao nhất là cấp tướng vào luật để “luật hóa”, nhằm quy định chặt chẽ việc phong, thăng quân hàm cấp tướng đảm bảo đúng theo quy định của Luật và Hiến pháp. Luật quy định sĩ quan chênh lệch hai bậc quân hàm, hoàn thành tốt nhiệm vụ được xét thăng quân hàm trước thời hạn trong tổ chức thực hiện còn bất cập, thiếu nhất quán, nhất là đối với sĩ quan không giữ chức vụ chỉ huy, quản lý...

Dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan QĐNDVN giữ nguyên 5 chương, 51 điều như Luật hiện hành; trong đó sửa đổi, bổ sung nội dung và sửa về kỹ thuật để phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật tại 9 điều, gồm: Điều 2, 11, 13, 15, 17, 18, 25, 35 và 50.

1

Theo đó, tại hội nghị, đại biểu các cơ quan BQP và các đơn vị đã tập trung đóng góp sửa đổi, bổ sung những nội dung đang vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện như: Vị trí, chức năng của sĩ quan; chức vụ của sĩ quan; tuổi phục vụ của sĩ quan; cấp bậc quân hàm cao nhất với chức vụ sĩ quan; thăng quân hàm đối với sĩ quan tại ngũ; thăng quân hàm sĩ quan trước niên hạn; thẩm quyền quyết định đối với sĩ quan; sĩ quan thôi phục vụ tại ngũ...

Các ý kiến cơ bản nhất trí cao với các phương án của Dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung đưa ra, đồng thời cũng nêu lên một số vấn đề như việc quy định tuổi cho đối tượng sĩ quan công tác ở một số cơ quan, đơn vị đặc thù cần kéo dài thời gian. Cần nghiên cứu kỹ trần quân hàm của một số cơ quan BQP cho phù hợp với thực tiễn. Cùng với đó, việc thăng quân hàm cho sĩ quan trước thời hạn phải là lãnh đạo, chỉ huy nếu như chỉ hoàn thành tốt và xuất sắc chức trách, nhiệm vụ thì chưa đủ, cần phải có đủ phẩm chất chính trị, uy tín của tập thể và được bình bầu danh hiệu Chiến sĩ thi đua...

Kết luận hội nghị, Thượng tướng Ngô Xuân Lịch đánh giá cao các ý kiến tham gia đóng góp tâm huyết của các đại biểu, thể hiện tinh thần trách nhiệm chính trị trong đóng góp vào Dự thảo Luật.

Đây là cơ sở quan trọng để Ban Soạn thảo tổng hợp trình Chính phủ và báo cáo trước Quốc Hội. Thượng tướng Ngô Xuân Lịch nhấn mạnh, sĩ quan QĐNDVN là cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước XHCN Việt Nam, do đó việc xây dựng đội ngũ sĩ quan cần hết sức chú ý quan điểm giai cấp trong Quân đội nói chung, đội ngũ sĩ quan nói riêng, để làm sao QĐNDVN trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng mãi mãi là lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, trong đó đội ngũ sĩ quan phải là lực lượng nòng cốt trong xây dựng quân đội.

Theo QDND

PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC RÚT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM


 Phillip Tran






 




          Trong những năm vừa qua, cùng với xu thế hội nhập quốc tế và quá trình toàn cầu hoá về kinh tế đang diễn ra ngày càng sôi động, tham nhũng đã trở thành quốc nạn nhức nhối của nhiều quốc gia dân tộc trên thế giới. Tổ chức biện pháp, công tác phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với tội phạm này rất khó khăn, phức tạp, nhạy cảm cần sự kết hợp đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các biện pháp. Ở Việt Nam, trong những năm qua công tác phòng chống tham nhũng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng ngay từ những ngày thành lập nước. Chúng ta đã xây dựng được hệ thống pháp luật trong chống tham nhũng, điển hình như Luật Phòng, chống tham nhũng (2005).. Nước ta đã ký kết, tham gia Công ước Liên hiệp quốc về chống tham nhũng nhằm đẩy mạnh và tăng cường khả năng phòng chống tham nhũng của các quốc gia thành viên này từ 19/12/2003. Tuy nhiên, ngoài những kết quả đã đạt được, tình trạng tham nhũng đã, đang diễn ra hết sức phức tạp và kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương và trong nhiều tổ chức kinh tế. Tham nhũng đang trở thành một trong những nguy cơ đe doạ sự sống còn của chế độ, Nhà nước XHCN Việt Nam. Bởi vậy, đấu tranh chống tham nhũng đã được Đảng ta xác định một trong những yêu cầu cấp bách có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong giai đoạn hiện nay. Ban Nội chính Trung ương và Ban Kinh tế Trung ương đã được thành lập đã cho thấy chủ trương quyết liệt trong đấu tranh đẩy lùi tham nhũng ở nước ta hiện nay.




Nghiên cứu về tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng là cả một hệ thống biện pháp, tìm tòi, sáng tạo, trên cơ sở phát huy vai trò tích cực của toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Chính vì vậy, tìm hiểu về công tác phòng chống tham nhũng ở một số nước trên thế giới, từ đó vận dụng linh hoạt, có hiệu quả vào tình hình thực tế của đất nước là nội dung quan trọng, cần thiết.




          Nước ta có thể tham khảo, học hỏi các kinh nghiệm phòng chống tham nhũng của một số nước trên thế giới được cho là hiệu quả như:




          1. Xingapo




           Xingapo là thành viên của ASEAN không chỉ được ca ngợi là quốc gia có nền kinh tế phát triển mà còn được đánh giá có một Chính phủ trong sạch. Xingapo có 4 kinh nghiệm chống tham nhũng khá hiệu quả như:




          Một là, làm cho quan chức không dám tham nhũng. Ở Xingapo, khi một người được tuyển vào làm công chức, quan chức chính phủ thì hàng tháng phải trích một phần tiền lương để gửi tiết kiệm. Thoạt đầu trích 5%, sau tăng dần. Người có chức vụ cao, thì phần trăm trích gửi tiết kiệm càng lớn, có thể lên tới vài chục phần trăm lương tháng. Số tiền này do Nhà nước quản lý. Bất kỳ công chức nào, quan chức nào phạm tội tham nhũng dù nhẹ ở mức xử phạt ra khỏi ngạch công chức thì toàn bộ số tiền gửi tiết kiệm bị trưng thu.



1



          Hai là, làm cho quan chức không thể tham nhũng. Thực hiện chính sách này, Chính phủ Xingapo quy định và thực hiện mỗi năm công chức, viên chức, quan chức phải khai báo một lần với Nhà nước về tài sản của bản thân hoặc của vợ (chồng) bao gồm tiền thu nhập, tiền gửi tiết kiệm, tiền cổ phiếu, đồ trang sức, ô tô, nhà cửa… Những tài sản tăng lên phải khai rõ nguồn gốc, cái gì không rõ nguồn gốc có thể coi là tham ô, tham nhũng. Nhà nước còn quy định: Quan chức chính phủ không được phép nợ nần; không được vay một khoản tiền lớn vượt quá tổng ba tháng lương.



2



          Ba là, làm cho quan chức không cần tham nhũng. Xingapo có chế độ trả lương chênh lệch khá cao giữa quan chức cấp cao với cấp thấp, với công chức và giữa công chức với nhân viên, công nhân. Với mức lương cao, quan chức đủ sống và chu cấp cho gia đình mà không cần tham nhũng. Hơn nữa cách trả lương như vậy công chức và quan chức chính phủ luôn có sự so sánh: Mình được trả lương cao hơn người lao động bình thường rất nhiều. Nếu mình tham ô, tham nhũng nữa thì là kẻ vô đạo lý, mất hết liêm sỉ. Bên cạnh đó, Xingapo còn điều chỉnh lương của khu vực nhà nước ngang bằng khu vực tư nhân. Từ năm 1995, do kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ cao từ 7-10%/năm, trong khi đó tiền lương trong khu vực nhà nước luôn chậm lại sau khu vực tư nhân từ hai đến ba năm, Chính phủ Xingapo đã chọn phương án tự động hoá việc xét duyệt lương các Bộ trưởng, quan toà, và các công chức hàng đầu theo bản báo cáo thuế thu nhập của khu vực tư nhân. Theo đó, lương của các Bộ trưởng và các viên chức cao cấp được gắn với mức lương ở vị trí tương ứng trong khu vực tư nhân. Điều này sẽ tự động làm cho thu nhập của họ tăng khi thu nhập trong khu vực tư nhân tăng.




          Bốn là, làm cho quan chức không muốn tham nhũng. Ở Xingapo muốn tham nhũng một thứ gì đó, dù nhỏ cũng rất phiền hà. Điển hình như: khi khách nước ngoài đến, nếu họ muốn tặng các quan chức nước chủ nhà một món quà để cảm ơn về sự đón tiếp và thắt chặt mối quan hệ thì món quà đó phải mang ý nghĩa văn hóa với giá trị tiền không nhiều. Nếu nhận quà phải báo cáo với lãnh đạo cơ quan xem xét. Phương châm và mục tiêu của việc phòng, chống tham nhũng theo hướng: Làm cho quan chức không dám, không thể, không muốn và không cần tham nhũng mà Xingapo đã làm rất có hiệu quả.




          2. Hàn Quốc




          Từ những năm 1990 của thế kỷ 20, tham nhũng ở Hàn Quốc đã là một trong những trở ngại chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy, người dân Hàn Quốc mong muốn Chính phủ có những giải pháp chống tham nhũng hiệu quả và cương quyết hơn bao giờ hết. Đáp ứng trước lời kêu gọi mạnh mẽ của nhân dân về một xã hội trong sạch và minh bạch, tháng 8/1999, Chính phủ Hàn Quốc bắt tay xây dựng các chính sách và chương trình toàn diện về chống tham nhũng, cụ thể là:




          - Xây dựng cơ chế đăng ký và công khai tài sản của viên chức chính phủ và việc ban hành đạo luật về hoàn trả tài sản thu lợi bất chính đã được xác lập và thực hiện năm 1993 nhằm ngăn chặn công chức có được tài sản thông qua các hình thức bất hợp pháp. Năm 1994, hệ thống tài chính ghi tên thật đã được xác lập, do đó việc ghi bút danh tên tài khoản ngân hàng trở thành bất hợp pháp. Biện pháp này đã giúp đưa ra ánh sáng những nguồn quỹ tài chính sai quy tắc, tiền hối lộ và các nguồn quỹ đen khác có liên quan.




          - Xây dựng các luật như Luật về thủ tục hành chính, Luật về tiết lộ thông tin của cơ quan nhà nước và Luật về quy chế hành chính. Các luật này đều có quy định về đảm bảo được tiếp cận thông tin. Những đạo luật trên được xây dựng nhằm ngăn chặn tham nhũng bằng phương thức thể chế hoá chế độ hành chính công khai và minh bạch thông qua các thủ tục hợp lý và huỷ bỏ những quy định hành chính không cần thiết.





          - Xây dựng một cơ chế “mở”, tức là tăng cường việc kiểm tra và tham gia giám sát của các đoàn thể xã hội và nhân dân vào hoạt động của chính quyền địa phương. Cơ chế tăng cường thủ tục xem xét đơn từ kết nối “trực tuyến” qua máy tính cũng đã được thiết lập với tư cách là một sáng kiến chống tham nhũng quan trọng trong các cơ quan hành chính, dịch vụ công và chính quyền địa phương. Như vậy nhờ cơ chế “mở”, toàn bộ thủ tục quản lý các vụ việc dân sự, từ khi tiếp nhận đến khi xử lý cuối cùng, được công khai trên Internet.




          - Các Điều ước liêm chính cũng được sử dụng giống như một công cụ phòng chống tham nhũng trong mua sắm tài sản công. Điều ước liêm chính của thành phố Seoul là thoả ước giữa cơ quan hành chính và các công ty nộp hồ sơ dự thầu (nếu có hối lộ thì sẽ không được giao hoặc chấp nhận dự thầu đối với các hợp đồng phục vụ mục đích công). Nếu vi phạm bất kỳ quy định nào của Điều ước thì sẽ bị cấm dự thầu trong các hợp đồng phục vụ công trình công cộng đến 2 năm. Vấn đề này đã được Tổ chức minh bạch quốc tế khuyến khích, ngoài ra Hàn Quốc cũng tích cực tham gia Hiệp định phòng chống hối lộ OECD và ban hành các luật có liên quan như Đạo luật phòng chống rửa tiền và áp dụng hệ thống công tố đặc biệt với mục đích chống tham nhũng.




          - Năm 2000, Chính phủ Hàn Quốc được sự hỗ trợ của Ngân hàng thế giới đã thực hiện một loạt các biện pháp toàn diện lần thứ hai với mục đích xử lý các lĩnh vực nhạy cảm dễ phát sinh tham nhũng mà trước đây chưa từng giải quyết, bao gồm: Hệ thống các trường phổ thông, thủ tục mua sắm tài sản, chi tiêu của Chính phủ và tiếp cận thông tin. Do đó, nhận thức về mức độ tham nhũng gần đây đã được cải thiện, một phần do vấn đề này được quan tâm nhiều hơn và hàng loạt các sáng kiến cải cách đã được chính quyền trung ương và địa phương thực hiện.




          - Quản lý bằng kỹ thuật số. Khuyến khích đẩy mạnh thương mại điện tử, mở rộng đấu thầu bằng điện tử, khuyến khích sử dụng thẻ tín dụng trong quá trình mua sắm... Mở rộng phạm vi tiếp cận thông tin thông qua mạng Internet, thúc đẩy chế độ quản lý trường học công khai và minh bạch và đặt ra các tiêu chí, mục tiêu cho trợ cấp Chính phủ. Minh bạch trong thủ tục và các chuẩn mực xác định trước con số tối đa và số lượng các dự án tự thực hiện; thực hiện dịch vụ một cửa trong cấp phát quỹ Chính phủ cho các ngành kinh tế vừa và trung bình.




          - Chính phủ Hàn Quốc còn nỗ lực xây dựng một hệ thống các cơ quan chống tham nhũng với những chức năng chi tiết, cụ thể nhằm thực hiện tất cả các biện pháp phòng chống tham nhũng. Để tăng cường năng lực của Chính phủ, các cơ quan chống tham nhũng trên toàn quốc và các vụ điều tra chống tham nhũng được hình thành tại Viện Công tố nhà nước. Nhiều nhà chuyên môn mới đã được đưa vào các vụ điều tra nói trên để thiết lập một lực lượng mạnh, có khả năng điều tra tham nhũng có tính chất thường xuyên trong các lĩnh vực, các ngành dễ xảy ra tham nhũng. Một số công tố viên đã mạnh tay chống tệ tham nhũng của các công chức cao cấp, công chức ở cấp trung gian cũng như cấp dưới. Viện Công tố quốc gia cũng điều tra nguồn gốc tài sản của công chức bị cáo buộc tham nhũng nhằm mục đích sung công và tịch thu các tài sản thu lợi bất chính.




          - Thành lập ủy ban Tổng thống về chống tham nhũng (PCAC), cơ quan này giữ vai trò là nhóm tư vấn Tổng thống. Từ ngày 25/2/2002, theo Đạo luật chống tham nhũng được ban hành tháng 7/2004, PCAC đã chuyển thành Uỷ ban chống tham nhũng độc lập Hàn Quốc hay KICAC. KICAC có chức năng chính là xây dựng các chính sách chống tham nhũng và các biện pháp tăng cường thể chế cho khu vực công, khảo sát và đánh giá chính sách tham nhũng và tiến độ thực thi, tuyên truyền và vận động chống tham nhũng, ủng hộ các nỗ lực ngăn ngừa tham nhũng của các tổ chức chống tham nhũng. Đồng thời, cơ quan này còn có nhiệm vụ phúc đáp các đơn từ khiếu tố về tham nhũng, bảo vệ người khiếu tố và thực hiện các hoạt động khác liên quan đến công tác chống tham nhũng.




          - Áp dụng các quy tắc đạo đức kinh doanh cho các Hiệp hội doanh nghiệp và khuyến khích các thành viên tuân thủ các bộ quy tắc đó. Liên đoàn các ngành công nghiệp Hàn Quốc đã thông báo ban hành Hiến chương đạo đức kinh doanh năm 1999 và thành lập Uỷ ban về đạo đức kinh doanh để cải thiện nhận thức và thông qua các quy tắc đạo đức đó trong các tập đoàn, các hãng thành viên.




          - Người lãnh đạo cần phải làm gương trong việc phòng chống tham nhũng. Điều này đặc biệt đúng tại Hàn Quốc, nơi có sự tập trung quyền lực chủ yếu ở cấp cao nhất. Trong bối cảnh đó, vai trò chỉ đạo hoạt động chống tham nhũng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Nếu không có nhân tố lãnh đạo làm gương thì việc thực hiện các biện pháp chống tham nhũng theo thẩm quyền tương ứng là rất khó khăn. Bởi vậy, tệ nạn tham nhũng không thể giải quyết trong một sớm một chiều, chỉ có một số lĩnh vực mà nạn tham nhũng có thể được đẩy lùi một cách nhanh chóng là hợp lý hoá thủ tục mua sắm công, quản lý thuế và quản lý hải quan.




          Như vậy, chiến lược chống tham nhũng của Hàn Quốc có thể được mô tả thông qua 4 thành tố, đó là: Xây dựng nền tảng cần thiết về chống tham nhũng; thực hiện cải cách hành chính và thể chế; nâng cao nhận thức của dân chúng về tham nhũng và tăng cường biện pháp phát hiện và trừng phạt.




          3. Trung Quốc




          Mặc dù vấn đề tham nhũng ở Trung Quốc diễn biến phức tạp, tuy vậy nước này được cộng đồng quốc tế hoan nghênh, đánh giá về sự quyết liệt trong phòng chống tham nhũng. Chính phủ Trung Quốc chính thức thành lập Cơ quan phòng, chống tham nhũng quốc gia (NBCP) đầu tiên của nước này, nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác phòng, chống tham nhũng và tiến tới bài trừ hoàn toàn tệ nạn này trong các ban, ngành của Chính phủ.






          Công tác phòng, chống tham nhũng được Đảng, Nhà nước Trung Quốc xác định là cuộc chiến lâu dài, phức tạp và gian khổ. Hoạt động phòng chống tham nhũng ở Trung Quốc phải đi đôi với các biện pháp kỷ luật nghiêm minh, đồng thời phải tìm hiểu rõ những nguyên nhân, biểu hiện của tham nhũng. Ðảng Cộng sản Trung quốc tiếp tục đẩy mạnh công tác điều tra các vụ tham nhũng, tăng cường công tác phòng chống, loại bỏ những điều kiện dẫn tới tham nhũng và phải có hình thức kỷ luật thích đáng đối với những quan chức tham nhũng theo đúng luật pháp quy định. Số liệu thống kê của Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao Trung Quốc công bố ngày 15-1 cho biết, từ tháng 1-2003 đến tháng 11-2007, cơ quan kiểm sát trong cả nước đã lập án điều tra 178.405 vụ án liên quan 207.935 người, trong đó có hơn 100.000 vụ liên quan tham ô và hối lộ, 34.939 vụ liên quan lạm dụng quỹ công với sự liên can của 13.790 quan chức cấp huyện và cấp vụ trở lên. Trong vòng năm năm qua, tổng cộng có tới 400.660 cán bộ lãnh đạo các cấp trong cả nước chủ động giao nộp những khoản thu bất chính (bằng tiền mặt, cổ phiếu) có giá trị lên tới 670 triệu nhân dân tệ (khoảng gần 90 triệu USD).




          Cùng với việc tìm hiểu nội dung phòng chống tham nhũng ở một số nước trên thế giới, áp dụng vào thực tế Việt Nam, chúng tôi xin được rút ra một số kinh nghiệm như sau:




          Một là, công tác phòng chống tham nhũng cần đặt dước sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam.




          Hiện tại, nước ta đã khôi phục lại hoạt động của Ban Nội chính Trung ương và Ban Kinh tế Trung ương nằm dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị nhằm tham mưu cho Đảng ta những vấn đề về nội bộ, các chủ trương, chính sách phòng chống tham nhũng hiện nay. Công tác đấu tranh chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư là phù hợp thể hiện tính khách quan, minh bạch, chủ động trong phòng chống tham nhũng. Đồng thời, khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa cơ quan Đảng, Nhà nước trong phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng trong thời gian qua.




          Hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, kể cả pháp luật về phòng, chống tham nhũng; xử lý kiên quyết, nghiêm minh các hành vi tham nhũng; có cơ quan đấu tranh chống tham nhũng chuyên trách, độc lập và xây dựng đội ngũ cán bộ chống tham nhũng trong sạch, liêm khiết, có bản lĩnh, tính chuyên nghiệp cao, vững về pháp luật, tinh thông nghiệp vụ, được đầu tư nguồn lực, phương tiện điều kiện làm việc đầy đủ, hiện đại.




          Ba là, xây dựng cơ chế giám sát, kiểm soát chặt chẽ thu nhập của cán bộ, công chức, coi trọng kiểm toán, thanh tra việc lạm dụng quyền lực để tham nhũng và phải sử dụng quyền lực Nhà nước để hạn chế tối đa việc lạm dụng quyền lực Nhà nước của những kẻ tham nhũng. Thiết lập các đường dây nóng để thu nhận tin tức về tội phạm nói chung và tham nhũng nói riêng; nghiên cứu, xem xét đa chiều cả về những đơn thư tố cáo nặc danh để phát hiện tham nhũng, đồng thời có chế độ chính sách, động viên và bảo vệ người khiếu nại, người tố cáo hợp lí nhằm tạo điều kiện cho họ tham gia vào các hoạt động chống tham nhũng.






          Bốn là, về lâu dài cần tăng thu nhập ổn định cuộc sống cho cán bộ, đảng viên. Chú trọng tuyên truyền, giáo dục đạo đức công dân, hình thành văn hoá chống tham nhũng trong các tổ chức của Đảng, các cơ quan, ban ngành trong bộ máy Nhà nước và trong công chúng, qua đó phát huy tính tích cực, trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn, lên án tệ tham nhũng và tự giác tham gia tích cực vào đấu tranh phòng, chống tham nhũng; xây dựng cơ chế bảo vệ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhân dân ta nhận diện nhanh chóng, kịp thời phát hiện và tố cáo tham nhũng để kịp thời xử lí. Định kì yêu cầu kê khai bổ sung hằng năm và công bố công khai kết quả kê khai tài sản của công chức cho người dân biết, yêu cầu cán bộ, công chức sau khi thôi chức cũng phải kê khai tài sản. Cần thành lập các cơ quan phụ trách việc kê khai tài sản, công chức sẽ bị sa thải, bị xử lý theo pháp luật nếu không giải thích được nguồn gốc tài sản của mình và tài sản đó sẽ bị sung công quỹ.




Nhìn chung, tham nhũng đã và đang là vấn đề tệ nạn nhức nhối mang tính toàn cầu của mối quốc gia dân tộc trên thế giới. Là loại tội phạm mang tính đặc thù, phương thức, thủ đoạn tham nhũng rất tinh vi, không dễ dàng nhận biết. Tổ chức phòng chống với tham nhũng là vấn đề lâu dài, phức tạp, khó khăn hiện nay. Hơn lúc nào hết, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta rất quan tâm, quyết liệt, ráo riết tiến hành chống lại mọi biểu hiện, hành vi của tham nhũng. Từ thực trạng công tác phòng chống tham nhũng trong những năm qua, cùng với những tác động của tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… trong và ngoài nước trong thời gian tới, hoạt động của tội phạm tham nhũng sẽ còn phức tạp, khó lường. Do đó, trong đấu tranh với tội phạm tham nhũng cần thiết phải tăng cường hợp tác quốc tế trong trao đổi thông tin, học hỏi kinh nghiệm, phối hợp áp dụng các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chốn tội phạm tham nhũng giữa các quốc gia dân tộc với nhau./.





              Phillip Tran

 
Chia sẻ