Nhãn

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

Người Bí thư tận tụy

[caption id="attachment_1068" align="aligncenter" width="500"]Ông Phạm Quang Nghị Ông Phạm Quang Nghị[/caption]

Tôi là công dân Thủ đô. Dù đã đi xa thành phố này nhưng con người ấy tôi không thề nào quên được: Bí thư thành ủy Phạm Quang Nghị.


Ông không phải người Hà Nội. Nhưng gần 8 năm làm Bí thư ở đây, nhân dân Hà Nội luôn coi ông như là người anh em trong cùng một gia đình.


Ông là một cán bộ nhiều kinh nghiệm. Là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, IX, X, XI, Ủy viên Bộ Chính trị khoá X, XI, trước đó, ông còn từng giữ các cương vị khác như Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, Phó trưởng ban Ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương.


Ông sinh ngày 2 tháng 9 năm 1949 tại Định Tân, Yên Định, Thanh Hóa. Năm 1967, ông theo học tại Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội) và tốt nghiệp Cử nhân Lịch sử năm 1970.


Sau khi tốt nghiệp, ông làm phóng viên chiến trường, là cán bộ nghiên cứu Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, cán bộ biên tập Tạp chí “Sinh hoạt văn nghệ” thuộc Tiểu ban Văn nghệ miền Nam.


Sau giải phóng, ông trở về học tập và nghiên cứu tại Chuyên ban Triết học, Trường Nguyễn Ái Quốc 5, sau đó công tác tại Ban Tuyên huấn Trung ương. Ông làm nghiên cứu sinh và bảo vệ luận án Tiến sĩ Triết học tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Liên Xô.


Từ năm 1985, ông là cán bộ Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, đồng thời là Thư ký riêng cho Ủy viên Bộ Chính trị Đào Duy Tùng.


Trong khoảng 10 năm, từ 1988 đến tháng 10.1997, ông trải qua nhiều chức vụ khác nhau từ Phó giám đốc, Giám đốc Trung tâm Thông tin công tác tư tưởng rồi đến Phó Trưởng ban thường trực Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương; năm 1994, là Bí thư Đảng ủy cơ quan Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Ủy viên Ban Cán sự Đảng ngoài nước, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương về công tác tư tưởng.


Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Tháng 11 năm 1997, ông được điều về làm Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hà Nam, sau khi tỉnh này được tái lập lại từ tỉnh Hà Nam Ninh.


Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, ông tái đắc cử vào Ban Chấp hành Trung ương. Tháng 7 năm 2001, ông được bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin, kiêm Bí thư Ban Cán sự Đảng Bộ Văn hóa - Thông tin.


Tháng 5 năm 2002, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội Việt Nam khoá XI của tỉnh Hà Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tháng 4 năm 2006, ông tái đắc cử Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (24-27/6/2006), ông được cho thôi không tham gia Ban Bí thư Trung ương.


Ngày 28 tháng 7 năm 2006, ông được phân công giữ chức vụ Bí thư Thành ủy Hà Nội, thay cho ông Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam.


Tháng 7 năm 2008, Bộ Chính trị chỉ định ông làm Bí thư Hà Nội mở rộng (gồm Thủ đô Hà Nội, toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc và 4 xã của huyện Lương Sơn, Hòa Bình).


Tại Đại hội lần thứ XI nhiệm kỳ 2011-2015 của Đảng Cộng Sản Việt Nam diễn ra từ ngày 12 đến 19 tháng 1 năm 2011 tại Hà Nội, ông tiếp tục tái đắc cử vào Ban chấp hành Trung ương và được bầu vào Bộ Chính trị.


Không phải là một người thật sự xuất chúng, thậm chí bản thân ông cũng có sai lầm, khiếm khuyết (Trong trận lụt kỷ lục ở miến Bắc 2008, ngày 2 tháng 11 năm 2008, khi trả lời phỏng vấn qua điện thoại của phóng viên Vietnamnet về tình hình chống lũ, ông Nghị nói: “Tôi thấy nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia chứ không đem hết sức ra tự làm...”. Câu nói này đã gây nhiều dư luận mà theo ông Nghị thừa nhận “gây nên sự bức xúc và bị phê phán”. Do đó, 3 ngày sau, ông đã đưa ra lời xin lỗi: "Tôi thực sự lấy làm tiếc và muốn chân thành xin lỗi bạn đọc, xin lỗi mọi người") nhưng phẩm chất nổi bật của ông là tinh thần tận tụy với công việc.


Ông làm việc một cách thầm lặng nhưng đầy hiệu quả. Gần 8 năm, bộ mặt Thủ đô đã thay đổi rất nhiều. Giờ đây, Hà Nội đã rộng lớn hơn, những con đường mới ngày càng sạch và đẹp hơn, nạn tắc đường đã không còn trầm trọng như trước, các tai tệ nạn giảm rõ rệt với sự ra đời của lực lượng 141,…tất cả là thành quả do ông và ê- kíp làm việc của ông tạo ra.


Ông còn đặc biệt quyết liệt trong công tác phòng chống tham nhũng.


Cuối năm 2012, Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội đã điều tra xã hội học về thực hiện cải cách hành chính tại 5 sở Tài nguyên Môi Trường, Xây dựng, Quy hoạch Kiến Trúc, Kế hoạch Đầu tư, Tài chính. 1.000 người được lấy ý kiến là cán bộ chủ chốt của các quận huyện, lãnh đạo một số doanh nghiệp.


Theo kết quả điều tra, tình trạng nhũng nhiễu tiêu cực tại các sở vẫn diễn ra phổ biến, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính có tỷ lệ tiêu cực cao. Tỷ lệ này chiếm 2,7% tại Sở Tài Chính; 7,6% tại Sở Tài nguyên Môi trường; 6,3% tại Sở Quy hoạch Kiến trúc, 4,3% tại Sở Xây dựng; 4,7% tại Sở Kế hoạch Đầu tư.


Ngoài ra, các phòng khác cũng có tỷ lệ nhũng nhiễu tiêu cực cao như phòng Quản lý và Cấp phép (Sở Xây dựng), phòng Thẩm định dự án (Sở Kế hoạch Đầu tư), phòng Thông tin Quy hoạch Kiến trúc (Sở Quy hoạch Kiến trúc), phòng Đo đạc bản đồ (Sở Tài nguyên Môi trường)...


Phần đông ý kiến cũng không hài lòng về thái độ thực thi công vụ của cán bộ các sở, ngành. Theo đó, Sở Tài nguyên Môi trường đạt tỷ lệ hài lòng thấp nhất là 11%, cao nhất là Sở Tài chính với 26%. Tính quyết liệt trong chỉ đạo của lãnh đạo Sở Tài chính được đánh giá cao nhất (28%) và Sở Tài nguyên Môi trường thấp nhất (16%).


Theo Thành ủy Hà Nội, kết quả này cho thấy mức độ chuyển biến ở một số lĩnh vực cải cách hành chính chưa đáp ứng kịp đòi hỏi của thực tế. Những chuyển biến tại sở ngành chậm hơn tại các quận huyện. Tính quyết liệt của đội ngũ lãnh đạo chưa cao cũng là điều đánh suy nghĩ vì người lãnh đạo có vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện cải cách hành chính.


Tại cuộc họp mới đây, Bí thư Hà Nội Phạm Quang Nghị thẳng thắn chỉ ra lực cản nằm ở cơ chế chính sách chồng chéo giữa các ngành, tinh thần trách nhiệm của cán bộ chưa cao, còn né tránh đùn đẩy và mắc chứng quan liêu giấy tờ. Số liệu điều tra của Thành ủy về tinh thần trách nhiệm của công chức, tính quyết liệt giải quyết công việc cũng sát với đánh giá của Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam.


"Doanh nghiệp nói đi làm dự án ở đâu cũng có chi phí tiêu cực nhiều hay ít, những nơi khác có bôi thì trơn còn Hà Nội bôi cũng không trơn", ông Nghị nói.


Theo khảo sát của Ban Tuyên giáo Thành ủy, tại các sở Tài chính, Tài nguyên Môi trường, Kế hoạch Đầu tư, Xây dựng, Quy hoạch Kiến trúc, các chỉ số như tính quyết liệt giải quyết công việc chỉ đạt 28%; mức độ hài lòng đối với đội ngũ công chức tại các sở này đạt 26%.


Ông Đỗ Mạnh Hải, Chủ tịch quận Long Biên cho rằng việc phối hợp giữa các quận huyện và sở ngành chưa tốt. Như quận này khảo sát giải tỏa gầm cầu vượt song lại vướng văn bản cho phép tồn tại của Sở Giao thông Vận tải. "Nhiều việc không nhất thiết phải đi theo quy trình mà có thể trình bày qua điện thoại để tiết kiệm thời gian, còn nếu đi đủ một vòng thì phải mất tháng rưỡi tới hai tháng", ông Hải nói.


Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc Nguyễn Văn Hải phân trần, lãnh đạo Sở đã mổ xẻ những vấn đề người dân và doanh nghiệp phản ánh sau khi chỉ số PCI của Hà Nội đạt thấp. Doanh nghiệp kêu công tác quy hoạch chậm, nhưng thực tế là đồ án quy hoạch chung mới làm xong cuối năm 2012 nên nhiều hồ sơ dự án không triển khai được. Doanh nghiệp phải chờ đợi rà soát để khớp nối với quy hoạch.


Ngoài ra, do biến động thị trường nên các doanh nghiệp bất động sản muốn điều chỉnh quy hoạch từ chức năng văn phòng sang nhà ở hoặc cắt nhỏ căn hộ... "Chúng tôi thấy cái nào khả thi mới xem, còn không thì không xem xét. Đây là việc khiến họ không hài lòng. Chia nhỏ căn hộ ra bán cho dễ song lại tăng gấp đôi số dân. Doanh nghiệp chạy đi chỗ này chỗ kia tác động làm khó khăn cho chúng tôi rất nhiều", ông Nguyễn Văn Hải giải thích.


Tại cuộc họp, Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đề nghị có các giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính hiệu quả, như rà soát đội ngũ công chức, đào tạo lại để đáp ứng nhiệm vụ; ứng dụng công nghệ thông tin, tiếp tục rà soát các thủ tục để giảm phiền hà, giải quyết nhanh hơn công việc. Đặc biệt, các sở ngành không được đùn đẩy cho quận huyện nếu công việc thuộc thẩm quyền.


"Nguyên nhân chủ quan vẫn là thủ tục hành chính do chúng ta thực hiện chứ không đổ lỗi cho dân hay ông trời. Có nơi người dân cho rằng không có chính quyền, đây là nguyên nhân dẫn tới chỉ số môi trường kinh doanh giảm rất mạnh năm 2012", ông Nguyễn Thế Thảo nhận định.


Đề cập về chỉ số PCI của Hà Nội giảm từ bậc 36 xuống 51, ông Nguyễn Thế Thảo cho rằng, ở đây có 2 mặt của vấn đề là doanh nghiệp bao giờ cũng đặt lợi nhuận trên hết còn nhà nước thì phải quản lý chặt chẽ đất đai. Trong tình hình hiện nay quản lý nhà nước cần tăng cường, nhưng kết quả không làm hài lòng các doanh nghiệp.


Nghiêm túc tiếp thu ý kiến của các cộng sự, chốt lại cuộc họp này, Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị đã thẳng thắn chỉ ra lực cản nằm ở cơ chế chính sách chồng chéo giữa các ngành, tinh thần trách nhiệm của cán bộ chưa cao, còn né tránh đùn đẩy và mắc chứng quan liêu giấy tờ. Số liệu điều tra của Ban Tuyên giáo Thành ủy về tinh thần trách nhiệm của công chức, tính quyết liệt giải quyết công việc hay mức độ hài lòng của người dân cũng sát với đánh giá của Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam.


Ông dẫn ví dụ: "Tôi nhận được thư chúc mừng của lãnh đạo thành phố Viêng Chăn (Lào) về dịp kỷ niệm, sau đó thư trả lời cảm ơn của Sở Ngoại vụ tới nước bạn trình lên tôi thiếu một ngày nữa là tròn một tháng. Tôi rất khó chịu về việc này. Hỏi ra thì là Văn phòng UBND chậm 22 ngày, Sở Ngoại vụ chậm 8 ngày".


Theo Bí thư Thành ủy, năm trước Hà Nội đề ra mục tiêu tăng chỉ số PCI là 10 bậc song thực tế không giữ được mà lại tụt 15 bậc. Trong đó, doanh nghiệp đánh giá thấp về các chi phí không chính thức, tính minh bạch thông tin, năng lực của lãnh đạo thành phố... "Doanh nghiệp nói họ đi làm dự án ở đâu cũng có chi phí tiêu cực nhiều hay ít, những nơi khác có bôi thì trơn còn Hà Nội bôi cũng không trơn", ông Nghị phát biểu.


Bí thư Hà Nội cho rằng, chỉ số PCI đạt thấp là lời báo động để Hà Nội chấn chỉnh kỷ cương hành chính, tập trung nhiều hơn vào giám sát, phân cấp quản lý; tiếp tục sửa đổi các thủ tục nhằm tinh gọn, giải quyết công việc nhanh chóng. "Tôi rất chia sẻ với đội ngũ công chức vì khối lượng công việc quá tải, không thể hài lòng hết mọi người, việc này làm tốt thì việc kia phải gác lại. Nhân viên bộ phận một cửa chỉ nhận lương 3 triệu một tháng mà phải cười nói hàng ngày và phải chịu tác động của cơ chế thị trường", ông Nghị nói.


Câu nói ấy thể hiện ông hiểu đội ngũ công chức dưới quyền ông như thế nào. Với một người lãnh đạo, có lẽ, sự tận tâm và khả năng thâu phục lòng người còn được đánh giá cao hơn cả tài năng.


Song cuộc đời chính trị của ông không hề êm ả. Một số người không hiều những lời ông nói, những việc ông làm. Có kẻ còn đặt điều vu khống ông, bằng những đồn đoán ác khẩu. Chúng muốn hạ bệ ông đề nhằm đạt được mục đích đê hèn của chúng.


Hãy mặc kệ những đồn đoán đó, ông Nghị nhé. Chúng tôi, nhân dân Hà Nội luôn sát cánh cùng ông trong công cuộc dựng xây và phát triển thành phố này.


Nguồn Blog Congdanvietnam2

“Đạo Viết Phàm” cuối cùng cũng sa lưới

Capture
Phạm Viết Đào vốn nổi tiếng trên mạng với những bài viết xằng bậy của mình. Đến mức người ta phải đọc lộn lại tên y.


“Lưới trời lồng lộng, tuy thưa nhưng khó lọt”, cuối cùng thì những hành vi phạm pháp của y đã phải trả giá đắt.


Theo tin cập nhật mới nhất, ngày 13/6, Cơ quan�ờng sáng để đi vào đám bùn lầy. Từ một cán bộ giỏi, một nhà văn triển vọng với nhiều tác phầm có tiếng vang, y đã bị những thế lực xấu dụ dỗ, mua chuộc để viết những bài blog phản động trên mạng, quay lưng lại với Nhà nước và nhân dân Việt Nam.


Y đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận của mình để nói những điều xằng bậy. Rõ ràng, những chứng cứ xác thực đã khẳng định y phạm tội quy định tại điều 258 Bộ luật hình sự Việt Nam.


Điều 258. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân


1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.


2. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.


May thay, “đạo viết phàm” bị bắt rồi. Từ nay, cộng đồng mạng sẽ không còn phải chứng kiến một con sâu mọt!


Nguồn blog tiengnoitre

Việt Nam - nguy cơ trở thành “bãi phế thải” của Trung Quốc

Việt Nam - nguy cơ trở thành “bãi phế thải” của Trung Quốc

Nhiều chuyên gia cho rằng thực chất đây là cái bẫy của thương mại tự do khiến chúng ta dễ trở thành bãi phế thải các loại hàng hóa phẩm chất xấu của Trung Quốc...

Câu chuyện hàng Trung Quốc độc hại tràn ngập thị trường Việt Nam đã không còn là chuyện mới. Tuy nhiên càng ngày mức độ càng trầm trọng hơn, báo động hơn, có nguy cơ phá hoại nền kinh tế và đầu độc sức khỏe người dân.

Nhiều chuyên gia cho rằng thực chất đây là cái bẫy của thương mại tự do khiến chúng ta dễ trở thành bãi phế thải các loại hàng hóa phẩm chất xấu của Trung Quốc. Xây dựng một hàng rào kỹ thuật thương mại nghiêm ngặt là việc chúng ta cần phải làm ngay, không thể chậm trễ.

Sự quyến rũ chết người

Không thể không thừa nhận Trung Quốc với 1,3 tỷ dân và một nền kinh tế đứng thứ hai thế giới là một thị trường quyến rũ. Nhưng như nhận định của dư luận thế giới, đó là sự quyến rũ chết người.

Hàng chục nước trên thế giới đang có vấn đề trong thương mại, đầu tư với Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc cũng đang tỏ ra là nước sử dụng thành thạo việc kết hợp các sức ép ngoại giao, chính trị song hành với kinh tế để trả đũa các nước khác mỗi khi có “vấn đề” với Trung Quốc.

Bán cái chết cũng là chủ đề của cuốn sách đang nổi tiếng tại các nước phương Tây bàn về chất lượng hàng hóa Trung Quốc. Cuốn “Chết dưới tay Trung Quốc” được viết bởi Giáo sư Kinh tế và Chính sách Công cộng tại Đại học California, Irvine, Peter Navarro. Một loạt những vụ bê bối về thực phẩm độc hại của Trung Quốc trong suốt thời gian qua đã khiến cả thế giới phải rùng mình.

Mỗi ngày qua đi lại có thêm một vụ thực phẩm bẩn, độc hại xuất hiện. Những “sát thủ giấu mặt” đó vẫn hàng ngày hàng giờ hiện diện trên bàn ăn của mỗi gia đình. Không chỉ thực phẩm mà cả những hàng hóa rẻ tiền, chất lượng kém, phát hiện có chất độc của Trung Quốc cũng đang làm nhiễu loạn thị trường thế giới. Nhiều nước đã đồng loạt tẩy chay hàng Trung Quốc.

Thương lái Trung Quốc hoành hành - đâu là bộ mặt thật?

Từ việc thương lái Trung Quốc thu gom móng trâu bò của đồng bào dân tộc, tận thu gốc rễ, gốc cây tiêu ở Tây Nguyên, thu mua hạt chè ở Thái Nguyên cho đến việc lừa đảo mặt hàng hải sản ở Đồng bằng Sông Cửu Long, hoa hồng ở Đà Lạt, mua đỉa ở khắp nơi, mua lá xoài khô, mua nguyên liệu đông dược trên mọi cánh rừng trong cả nước… Gần đây nhất, thương lái trung Quốc lại tìm mua rễ cây rừng ở xã Kon Pne, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

Hàng trăm câu chuyện mua bán với thương nhân Trung Quốc đã để lại những hậu quả xấu. Điển hình là năm 2011, người dân các huyện Hóc Môn, Củ Chi, TP Hồ Chí Minh ồ ạt rủ nhau đi bắt đỉa, gom về bán cho các đầu nậu.

Nhưng sau đó, các đầu nậu bỏ đi, để lại những cánh đồng đầy đỉa và nỗi lo sợ cho người dân. Thương nhân Trung Quốc đã tổ chức mua móng trâu bò với giá cao, thậm chí chỉ bốn cái chân trâu, bò giá trị đã bằng nửa con trâu, bò.

Vậy là dân đua nhau giết trâu bò đem bán. Từ đó, toàn bộ sức kéo nông nghiệp một vùng núi phía bắc bị hủy hoại. Lúc đó thương nhân Trung Quốc lại sang gạ bán trâu với giá cao gấp hai lần, đưa máy kéo nhỏ sang bán. Hết trâu bò rồi thì phải mua thôi.

Ở Cao Bằng, Lạng Sơn thương nhân Trung Quốc mua rễ cây hồi với giá cao. Vậy là hàng loạt cánh rừng hồi bị phá hủy bởi những kẻ đào trộm rễ hồi đem bán. Rồi các thương lái lại mua râu ngô non, xúi giục nông dân triệt phá nương ngô mang bán, đánh trúng vào cái dạ dày đồng bào.

Hàng tốp thương lái Tàu xuất hiện từ Hà Giang cho đến Lâm Đồng để thu mua chè vàng, là thứ chè chặt thô phơi tái, không cần chế biến. Thương lái Tàu mua chè vàng với giá rất cao, kích thích nông dân chặt trụi đồi chè mang bán. Thế là thương lái Tàu đã triệt hạ vùng nguyên liệu của các nhà máy chè Việt Nam.

Hoặc việc Trung Quốc thu mua cây phong ba có khả năng làm sạch không khí sẽ ảnh hưởng đến môi trường cũng như giá trị kinh tế về lâu dài. Cây mật gấu là cây thuốc quý, nằm trong sách đỏ Việt Nam, dùng để chữa kiết lỵ, tiêu chảy, viêm gan, vàng da, nhưng mấy năm nay, cây mật gấu bị khai thác mạnh làm thương phẩm bán sang Trung Quốc. Vì vậy cây mật gấu có nguy cơ tuyệt chủng rất lớn.

Họ mua dây đồng vụn giá cao nhắm tới đường dây tải điện, mua cáp quang phế liệu nhắm tới đường truyền cáp quang… Họ mua gạo Việt Nam, nhưng đề nghị chúng ta trộn gạo thường vào gạo thơm rồi đem bán gây dư luận xấu về chất lượng gạo Việt Nam, mua tôm rồi bơm chất chất bẩn vào và đem bán ngay trên thị trường chúng ta…

Càng ngày, danh sách những thứ lạ đời mà thương lái Trung Quốc tìm mua tại Việt Nam càng được nối dài. Dù mua bán công khai hay lén lút với thương lái Trung Quốc thì đa số người dân cũng không rõ “Trung Quốc mua những thứ đó để làm gì”. Những chiến dịch mua bán của họ chỉ sau vài năm mới lộ ra ý đồ thật sự.

Đầu độc người dân Việt Nam

Cục Bảo vệ thực vật đã công bố nho Trung Quốc chứa hóa chất vượt ngưỡng 3-5 lần, được bày bán tại Việt Nam dưới mác “nho Mỹ” để đánh lừa người tiêu dùng với giá 40.000-60.000 đồng nhưng giá gốc trên hóa đơn chỉ có 6.000 đồng/kg.

Táo Trung Quốc được trồng bằng công nghệ bọc túi tẩm thuốc sâu độc hại. Lê Trung Quốc chứa thuốc trừ sâu Endosulfan có tính độc cao và có thể phá vỡ hệ nội tiết hoặc gây ảnh hưởng đến cơ quan sinh sản của con người.

Với lợi thế giá rẻ và không bị ràng buộc về mặt chất lượng, nên các mặt hàng phổ thông, có tác động trực tiếp đến sự an toàn của người dân như đồ gia dụng, rau củ quả, trái cây “Made in China” được nhập về Việt Nam một cách thoải mái qua con đường tiểu ngạch.

Tính trung bình, mỗi ngày có khoảng 1.000 tấn trái cây được nhập về Việt Nam. Ngày 21-4, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lai Châu, 5 người dân tộc Dao, tại bản Phố Vây, xã Sì Lở Lầu, huyện Phong Thổ đã phải nhập viện do ăn phải hoa quả có nguồn gốc từ Trung Quốc. Sau đó, 1 bệnh nhân tử vong là cháu Tẩn U Mẩy (5 tuổi).

Báo chí cả trong nước lẫn quốc tế từ lâu đã cảnh báo mối họa nhập hàng hóa kém chất lượng từ Trung Quốc, ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng như: gạo giả, sữa bột giả, trứng giả, trái cây nhuộm chất hóa học, dư lượng thuốc trừ sâu, thịt đông lạnh hư thối… cho tới cả tiền giả đang phá hoại nền kinh tế Việt Nam một cách âm ỉ và có hệ thống.

Thủ đoạn kinh doanh

Thủ đoạn kinh doanh của các thương lái Trung Quốc đã bộc lộ rõ bản chất: thiếu đạo đức kinh doanh. Ban đầu, các thương nhân Trung Quốc thu mua nông sản ồ ạt, họ đặt trạm gom hàng nông sản khiến nhu cầu tăng đột biến, giá nông sản tăng nhanh.

Các doanh nghiệp trong nước không cạnh tranh được đành chịu thiếu nguyên liệu sản xuất. Sau khi đã thao túng được thị trường, tất cả thương nhân Trung Quốc bắt đầu hạn chế và dừng mua đột ngột khiến giá giảm nhanh chóng. Đến khi giá giảm rất thấp thì họ bắt đầu quay trở lại ép giá thấp hơn nữa và bắt đầu thu mua.

Họ tự đặt ra các tiêu chuẩn “kì lạ” để có lý do ép giá nhiều hơn (ví dụ khoai lang củ to không mua, bắt phải giảm giá). Như trường hợp khoai lang tím, sau khi giá giảm chỉ còn 300,000 đồng/tạ, nông dân đã chủ động kéo dài thời gian thu hoạch, khoai lớn củ hơn nhưng giá lại bị ép xuống còn 250,000 đồng/tạ.

Với cùng một thủ đoạn lặp đi lặp lại, các thương nhân Trung Quốc đã có thể ép giá dứa giảm hơn một nửa, khoai lang tím giảm tới 70%, và giá dừa thậm chí giảm đến 90%, còn gạo thì đang giảm giá liên tục và vẫn loay hoay tìm kiếm thị trường thay thế.

Chúng ta đã có không ít hệ luỵ từ rất nhiều bài học trên thương trường mang tên “Trung Quốc” như những vụ thu mua một lượng lớn nông sản với giá trên trời, đến khi người dân đổ xô khai thác, thu hoạch thì các thương lái Trung Quốc lặn mất tăm.

Trung Quốc còn sử dụng “chiêu” đơn phương hủy các hợp đồng thương mại, sử dụng rào cản kiểm dịch và cố tình làm chậm việc thông quan hàng xuất khẩu của Việt Nam tại các cửa khẩu trên biên giới hai nước đã làm cho các doanh nghiệp Việt Nam thiệt hại, nhất là đối với các mặt hàng nông sản mà Việt Nam xuất sang Trung Quốc.

Đó là các thiệt hại trực tiếp cho nông dân, còn đối với các doanh nghiệp cần hàng sản xuất thì thiệt hại lại đau đớn hơn nhiều khi nguồn cung nguyên liệu của thị trường rất lớn nhưng họ lại không thể mua được và phải sản xuất dưới công suất do không thể cạnh tranh thu mua với thương lái Trung Quốc.

Việt Nam đang thành bãi phế thải của Trung Quốc

Vì Việt Nam thiếu các hàng rào kỹ thuật để kiểm soát hàng kém chất lượng nên lâu nay chúng ta đã trở thành nơi tiêu thụ “thượng vàng hạ cám” của Trung Quốc. T

rên thị trường Việt Nam đủ các loại hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, hàng vứt đi vẫn đang tồn tại đầy rẫy ngoài chợ, thậm chí cả trong siêu thị: gà thải loại, trứng gà giả, trái cây, rau quả tẩm ướp hóa chất độc hại, gừng tỏi, gia vị, và thậm chí các loại phụ gia gây ung thư cũng được nhập về và bày bán khắp nơi.

T.S Nguyễn Minh Phong, chuyên gia kinh tế cho rằng điều này đã tạo ra 2 mối nguy cho Việt Nam: trước hết đó là hàng hóa thực phẩm giá rẻ tràn vào nhưng không được kiểm soát tốt về chất lượng, thứ hai, nguy hiểm hơn là Trung Quốc có chiến lược “đẩy” hàng nghìn thiết bị công nghệ sản xuất lạc hậu sang các nước, trong đó có Việt Nam, nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ thành “bãi phế thải” công nghệ, bãi phế thải của những hàng hóa phẩm chất xấu của Trung Quốc.

TS Lê Đăng Doanh, Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương: Có dấu hiệu phá hoại nền kinh tế

Hàng hóa Trung Quốc đang tràn ngập thị trường Việt Nam? Nhập siêu luôn tăng qua các năm. Là một chuyên gia kinh tế, ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

Hàng Trung Quốc càng ngày càng nhập ồ ạt vào Việt Nam, từ cái tăm cho đến trang thiết bị dẫn đến nhập siêu rất lớn. Các thương nhân Trung Quốc sang Việt Nam mua hàng có dấu hiệu phá hoại nền kinh tế của chúng ta như mua lá cây hồi, mua lá cây điều… Điều này diễn ra với tất cả các nước, đặt biệt là những nước có biên giới chung với Trung Quốc.

Tôi sang Thái Lan, Thái Lan cũng kêu. Miến Điện cũng kêu nhưng với Việt Nam đặc biệt nghiêm trọng vì Việt Nam có đường biên giới với Trung Quốc rất dài. Thứ hai là hàng Trung Quốc làm ra rất rẻ, chất lượng nhiều mặt hàng kém. Họ sản xuất được nhiều mặt hàng tốt nhưng họ xuất đi nước khác chứ không xuất sang Việt Nam. Xuất sang nước ta là có chính sách, có chủ ý, những mặt hàng có chất lượng thấp, giá rất rẻ.

Ông có thể giải thích rõ hơn vì sao hàng Trung Quốc độc hại và kém chất lượng như vậy nhưng chúng ta vẫn ồ ạt nhập về?

Có mấy lý do: Chênh lệch giá giữa hàng của chúng ta và hàng Trung Quốc quá lớn, ví dụ như quả trứng gà. Trứng gà thải loại Trung Quốc có giá 500 đồng, đó là họ bán phá giá. Thứ hai là chúng ta đã ký hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN và Trung Quốc trong đó chúng ta cam kết các thuế nhập khẩu của hàng Trung Quốc vào Việt Nam được giảm từ 0-5%.

Và điều quan trọng nhất là những rào cản kỹ thuật về thương mại chúng ta làm quá chậm nên giờ chúng ta đối phó rất khó. Nhiều người dân ở vùng biên giới nghèo nên đi làm cửu vạn để chuyển hàng từ Trung Quốc về Việt Nam. Chúng ta đã bắt nhưng không bắt được người cầm đầu cho nên bắt cóc bỏ đĩa, bắt người này thì lại có những người khác.

Hệ lụy của tình trạng này là gì, thưa ông?

Về kinh tế là rất đáng báo động. Đó là những điều hết sức đáng lo ngại cả về mặt kinh tế và sức khỏe của người dân, về ổn định trật tự xã hội.

Chúng ta có thể có những giải pháp nào để hạn chế việc nhập khẩu và tiêu thụ hàng Trung Quốc độc hại tại Việt Nam?

Chúng ta đã ký hiệp định thương mại nên không thể nói là tẩy chay hàng Trung Quốc. Chúng ta chỉ có thể cực lực tố cáo những mặt hàng có hại cho sức khỏe, kêu gọi người dân không sử dụng những hàng hóa đó. Ví dụ ăn một quả trứng 500 đồng nhưng mang bệnh vào người và phải bỏ ra 100 triệu đồng để chữa trị. Cần phải nói rõ để mọi người dân hiểu.

Doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam cần làm gì để bảo vệ mình?

Các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải tham gia tích cực, có những rào cản kỹ thuật và những biện pháp để bảo vệ. Người Việt Nam cần dùng hàng Việt Nam trước hết để bảo vệ sức khỏe của mình, sau là bảo vệ doanh nghiệp Việt Nam, chứ không phải là người tiêu dùng mù quáng. Doanh nghiệp tự đổi mới, cải tiến để nâng cao tính cạnh tranh.

Ví dụ chúng ta thấy những năm gần đây dệt may Việt Nam được đánh giá rất cao, người tiêu dùng đã chọn hàng Việt Nam thay vì hàng Trung Quốc. Hay bia Vạn Lực trước đây bán tốt nhưng gần đây không bán được nữa. Và bản thân người tiêu dùng phải tự bảo vệ mình và gia đình mình.

Cơ quan quản lý hàng nhập khẩu là Bộ Công thương. Ông có ý kiến gì về các biện pháp quản lý của Việt Nam?

Tôi thấy biện pháp của Bộ Công thương rất kém hiệu quả. Bộ Công thương rất chậm chạp trong việc có hàng rào kỹ thuật. Thí dụ ta xác định những mặt hàng nào độc hại thì phải phối hợp với Bộ Y tế là có những biện pháp kiểm soát rất nghiêm ngặt.

Vừa qua chúng ra đã làm chiến dịch ngăn chặn gà lậu qua biên giới và kêu gọi các cơ quan liên ngành vào cuộc nên có những kết quả và biến đổi bước đầu. Nhưng cần làm quyết liệt và đồng bộ hơn ở nhiều mặt hàng khác.

Xin cảm ơn ông!



Nguồn Tiengnoicuadan

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2013

Bạn biết gì về RẬN phản động

Hiện nay, trước những diễn biến mới của tình hình đất nước cũng như thế giới, và việc Việt Nam tham gia tổ chức WTO đã tạo ra nhiều thuận lợi cũng như thách thức mới cho đất nước. Lợi dụng sự mở cửa thông thoáng, quyền tự do dân chủ, và quyền con người luôn được nhà nước đảm bảo, và được sự bảo hộ của các nước lớn nên đã có rất nhiều rận lợi dụng để hoạt động chống phá cuộc cách mạng đi lên xã hội chủ nghĩa của Đảng và nhân dân Việt Nam.


Có nhiều người hỏi rằng đám rận này từ đâu ra?


Xin thưa rằng, đó là từ một bộ phận Việt gian, bán nước hại dân, làm tay sai cho lũ đế quốc, thực dân Pháp, Mỹ thuở nào. Sau khi bị quân và nhân dân ta đánh đuổi, chúng ba chân bốn chẳng chạy theo chân quan thầy, trốn chạy khỏi tổ quốc để tiếp tục kiếp sống chó săn ăn bám. Chúng "chiến đấu" bằng mồm, núp đằng sau tấm lá chắn "tự do - dân chủ" và sự bảo hộ của quan thầy và ăn đô la do quan thầy của chúng cấp cho. Từ nguồn gốc đó, sau khi con cháu của chúng sinh ra, chúng lại dạy cho con cháu cách làm RẬN và kiếm sống kí sinh trên quan thầy. Không dừng lại ở đó, chúng còn dùng tiền để mua chuộc lôi kéo, biến những người có quan điểm trung lập, thất nghiệp, cần tiền,…thành những con RẬN như chúng. Và một nhóm người nữa cũng không kém phần nhiệt tình đó là bọn cơ hội chính trị, vì hám danh hám lợi mà cam chịu làm rận.


Và một nhóm người nữa cũng không kém phần nhiệt tình đó là bọn cơ hội chính trị, vì hám danh hám lợi mà cam chịu làm rận.


Vậy làm thế nào để nhận biết được những chú RẬN bé nhỏ, luôn sống ẩn nấp này?
Về cơ bản chúng sẽ có những dấu hiệu nhận biết sau đây:
1. Chúng soi mói, chỉ trích, xuyên tạc, bêu riếu,bóp méo sự thật, lái vấn đề sang hướng ngược lại.. các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước mà không hề đưa ra một ý kiến đóng góp mang tính xây dựng nào cả (chỉ nhằm vào việc "phá" chứ không muốn "xây") nhưng chúng vẫn lớn tiếng gọi đó là vì dân vì nước để che mắt người dân.
2. Đội bu Mỹ lên đầu, lấy bu làm tiêu chuẩn cho mọi vấn đề của Việt Nam trong khi thể chế chính trị của hai nước là hoàn toàn khác nhau. Tóm lại với chúng "rắm Mỹ cũng thơm" như nước hoa Pháp vậy.


3. Xuyên tạc, bôi vẽ lịch sử nhằm lộng giả thành chân; chúng lật lọng, xuyên tạc, biến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thành một cuộc nội chiến; Chúng khôi phục và nâng tầm đám Ngụy quyền tay sai thành đối trọng với chính quyền hợp pháp của nhân dân Việt Nam,...
4. Xấu xa và đê tiện hơn gì hết đó là chúng bôi nhọ, xuyên tạc hình ảnh Bác Hồ và các nhà lãnh đạo Việt Nam.
5. Chúng luôn tự cho mình là yêu nước, tri thức, dân chủ cấp tiến, trong khi những việc làm, lời nói của chúng luôn thể hiện là những kẻ vô học, không có khối óc suy nghĩ, không nhìn thực tế diễn ra và suy luận theo hướng logic.
6. Đơm điều đặt chuyện về nội bộ Đảng CSVN, về đời tư các lãnh đạo Việt Nam nhằm gây chia rẽ và tạo tư tưởng không tốt trong dư luận
+ Vân vân và vân vân ...


Vậy hiện nay có bao nhiêu loại RẬN?
Từ nguồn gốc, xuất xứ, chúng ta có thể phân loại sơ bộ gồm có các loại rận như sau:
1. Rận chúa: Đây là lũ rận nguy hiểm nhất vì chúng là cầu nối giữa "mẫu quốc" với đám rận còn lại. Những rận chúa này là "tinh hoa" của đám rận hải ngoại. Đa số chúng là những người còn sót lại của chính quyền Ngụy Sài Gòn đã bám đít “ mẫu quốc” cho đến bây giờ.
2. Rận sĩ - chí thức: Chúng thường tự xưng là "nhân sĩ - trí thức" Đây là loại rận nham hiểm nhất. Nấp đằng sau những vỏ bọc hoành tráng như giáo sư, tiến sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà báo, sỹ quan quân đội... . Chúng lấy những chức danh, học hàm học vị để tôn những luận điệu của chúng lên hòng đánh lừa và thuyết phục nhân dân.
3. Rận thánh thần: đám rận này núp trong tấm áo chùng thâm hoặc áo cà sa, mượn danh thánh thần để mưu sự chuyện thế tục. Lợi dụng đời sống tâm linh, phong tục tập quán của nhân dân để tác nghiệp.
4. Rận vô lại: thành phần rận này thì đông đảo nhất, bất tài vô tướng, chỉ làm "cách mạng" bằng thứ vũ khí duy nhất chúng có: chửi đổng, chửi thề,… Loại này có thể thấy rất nhiều ở các trang mạng, blog LỀ BẨN, đặc biệt là khu giành cho bình luận bài viết.
5. Rận mầm non: là những thanh thiếu niên còn non nớt, chưa vững về bản lĩnh chính trị, thiếu hiểu biết lịch sử, thực tế, lại thừa thãi ham muốn vật chất nên dễ dàng bị các rận già kích động, lôi kéo, dụ dỗ,…
6. Rận sữa: Loại này bao gồm những kẻ mang khá đầy đủ "phẩm chất rận" nhưng vì nhiều lý do không dám bước qua cái ranh giới mong manh mà luật pháp vạch ra (như còn ăn cơm nhà nước, muốn "dấn thân" nhưng lại sợ tù đày,...) mà chỉ đứng xa xa (trên blog) hò reo, tang bốc, cổ vũ các rận chị, rận anh.


Mục đích và phương pháp hoạt động của chúng là gì?
Mục đích của chúng là từ việc gây chia rẽ nội bộ đất nước, làm tổn thương mối quan hệ giữa nhân dân và chính quyền bằng các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ, đơm đặt...Gây bất ổn an ninh - chính trị - xã hội bằng những hoạt động chống phá như rải truyền đơn, đặt mìn hoặc biểu tình nhân danh yêu nước. Xuyên tạc, bóp méo lịch sử và reo rắc những thông tin "đổi trắng thay đen" đầu độc các thế hệ trẻ Việt Nam, nhân dân Việt Nam, nhằm tạo ra cách mạng màu, cách mạng đường phố ( gọi tắt là BIỂU TÌNH) tại Việt Nam để lật độ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm thỏa mãn cơn khát quyền lực chính trị của chúng.


Biện pháp để phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn Rận là gì?
Rất đơn giản, đó là mỗi một người dân luôn luôn đề phòng, cảnh giác với những thông tin truyền miệng, thông tin trôi nổi trên Internet, khi có khúc mắc về vấn đề gì đó thì nên tìm hiểu kĩ, chớ nôn nóng, cả tin,…Mọi tin tức cần biết thì nên tìm đọc trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo mạng chính thống để tránh lây nhiễm các tin tức độc hại mà bọn rận tung ra. Khi nhận thấy những biểu hiện là RẬN thì kiên quyết đấu tranh, phản bác lại những luận điệu của chúng, cho chúng thấy nhân dân Việt Nam không Ngu, nhận biết được cái đúng cái sai và âm mưu của chúng, nhanh chóng vạch trần bộ mặt thật của chúng cho mọi người cùng biết. Luôn tạo cho mình một mối quan hệ, thông tin kịp thời với cơ quan chức năng để khi nhận thấy các đối tượng RẬN là nhanh chống báo cho cơ quan chức năng ngăn chặn, bắt chúng phải chịu hình phạt của pháp luật.


Theo blog tiengnoitre

Đất nước ta là đất nước nông nghiệp với hơn 70% dân số làm nghề nông. Vì vậy đất chính là cơ sở, là nguồn sống của phần lớn dân số Việt Nam. Tuy nhiên, để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có chính sách phát triển các khu công nghiệp, mở rộng các khu đô thị. Để đạt được mục đích trên, Nhà nước đã có chính sách thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp cũng như làm quỹ đất để phát triển các khu đô thị và phát triển cơ sở hạ tầng. Để tiến hành thu hồi đất, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách, những kế hoạch rõ ràng nhằm đảm bảo sau khi thu hồi đất, nhân dân tại khu vực đó vẫn có thể sinh sống bình thường và việc thu hồi không ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân dân. Chẳng hạn tại các khu vực thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp thì Nhà nước luôn có chính sách ưu tiên cho công dân tại khu vực có đất bị thu hồi được đào tạo, sau đó làm việc tại các công ty được xây dựng tại khu vực đó.
Công viên Thiên đường bảo sơn – nơi thu hút hàng ngàn lao động tại xã An Khánh
Khi thu hồi đất, nhân dân nhận được khoản bồi thường lên đến hàng trăm, hàng tỷ đồng. Đây là số tiền khá lớn đối với những gia đình làm nghề nông. Sau khi có được số tiền trên, nhiều gia đình đã sử dụng vào các mục đích như xây nhà, mua xe máy, chia cho các con… mà không đầu tư để làm nghề khác. Điều này dẫn đến sau một thời gian ngắn đã tiêu hết số tiền đó. Thêm vào đó, các gia đình này cũng không có thu nhập gì, dẫn đến cuộc sống gặp nhiều khó khăn. Đây là một trong những luận điệu mà bọn phản động thường lợi dụng để kích động nhân dân tại các địa phương có đất bị thu hồi tụ tập, biểu tình. Chúng thường rêu rao rằng, Nhà nước thu hồi hết đất khiến nhân dân không còn đất để làm, khiến cuộc sống nhân dân đói khổ. Nhưng chúng đâu biết rằng, việc sau khi thu hồi đất cuộc sống của một số gia đình gặp khó khăn có một phần lỗi lớn từ phía những gia đình được đền bù đất. Hẳn chúng ta không thể quên những năm 2000-2003 khi Nhà nước có chính sách thu hồi đất để phát triển khu đô thị Mỹ Đình. Sau khi nhận khoản bồi thường lên đến hàng tỷ đồng, nhiều người dân tại đây đã dùng số tiền đó để mua ô tô, tiêu xài hoang phí mà không chịu đầu tư để làm nghề, thậm chí sau khi nhận tiền đền bù tỷ lệ nghiện tại đây cũng tăng lên nhanh chóng. Thiết nghĩ, nếu bà con tại các địa phương có đất bị thu hồi sử dụng thiền đền bù một cách hợp lý thì vẫn có thể đảm bảo được cuộc sống của mình. Ví dụ như xã An Khánh, Hoài Đức. Đây là xã có phần lớn đất nông nghiệp bị thu hồi. Sau khi nhận tiền đền bù, nhân dân đã chuyển đổi ngành nghề từ làm nông sang làm mành, buôn bán cây cảnh. Chính vì vậy mà đời sống của nhân dân tại đây ngày càng được nâng cao.
Nghề làm mành giúp nhân dân xã An Khánh có cuộc sống ổn định
Điều dễ hiểu là, nếu việc thu hồi đất sai, đền bù không thỏa đáng thì nhân dân có quyền khiếu nại, yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại quyết định thu hồi, giá đền bù cũng như các sai phạm khác nếu có. Việc khiếu nại này đã được quy định rất rõ ràng trong các văn bản pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, việc tụ tập, treo các khẩu hiệu nói xấu, bôi nhọ chính quyền, có tính chất kích động bạo lực là việc làm hoàn toàn trái pháp luật. Đây là chiêu bài của một số tổ chức, cá nhân ở nước ngoài có tư tưởng chống đối muốn quấy rối cuộc sống của nhân dân, muốn chính quyền ngày càng suy yếu. Vì vậy, bà con đừng vì mấy lời lẽ tưởng như “lọt tai”, tưởng như “hợp lý” của bọn này. Hoạt động khiếu nại, tố cáo các hành vi sai phạm phải được thực hiện theo qui định của pháp luật chứ không phải theo sự kích động của bọn xấu.

Nguồn http://kenhvietnam.blogspot.com/2013/04/chinh-sach-ho-tro-cac-ho-dan-bi-thu-hoi.html

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng- Nhà ngoại giao xuất sắc

Hai nhiệm kỳ của ông không hề êm ả. Khủng hoảng kinh tế- tài chính diễn ra trên phạm vi toàn cầu, vấn đề biển Đông ngày càng nóng bỏng, cộng với sự chống phá điên cuồng của bè lũ “rân chủ”,…ông vẫn đầy bản lĩnh, tự tin đưa đất nước Việt Nam tiến lên.
Gần 8 năm ông nắm quyền điều hành Chính phủ, dẫu vẫn còn đó nhiều khiếm khuyết, song nền kinh tế Việt Nam dưới sự chèo lái của ông vẫn đứng vững qua bao phong ba. Vị thế của dân tộc mình ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Gần 8 năm ấy, Việt Nam đã gia nhập WTO, đã trở thành thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ khóa 2008- 2009, là thành viên nắm vai trò quan trọng trong khu vực ASEAN…
Trong các diễn đàn quốc tế, ngài Thủ tướng luôn xuất hiện với sự tự tin, cởi mở, hữu hảo nhưng cũng đầy đanh thép trong những tuyên bố của mình- tuyên bố đại diện cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Ông là một nhà ngoại giao xuất sắc. Rất nhiều báo chí nước ngoài đã dành tặng cho ông những “lời có cánh”.
Tham gia đối thoại Shangri- la, một diễn đàn an ninh của khu vực châu Á- Thái Bình Dương đặc biệt đề cập đến những vấn đề nóng bỏng, là cơ hội đề Việt Nam thề hiện thế và lực của mình. Trọng trách ấy được đặt lên vai Thủ tướng, và ông đã làm rất tốt điều này. Ông đã có một bài phát biều đầy ấn tượng, đồng thời trả lời hàng loạt phóng viên nước ngoài về vấn đề biển Đông. Ông là ngôi sao sáng trên diễn đàn chính trị- an ninh quốc tế này, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Bài phát biều của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị Shangri- la về vấn đề “xây dựng lòng tin chiến lược” đã trở thành tâm điểm của Hội nghị này. Xin giới thiệu với quý độc giả toàn văn bài phát biểu ấy:
“Thưa Ngài Thủ tướng Lý Hiển Long,
Thưa Tiến sĩ John Chipman,
Thưa Quý vị và các bạn,
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn ngài Lý Hiển Long, Thủ tướng nước chủ nhà Singapore, Tiến sĩ John Chipman và Ban Tổ chức Đối thoại Shangri-La 12 đã mời tôi dự và phát biểu khai mạc diễn đàn quan trọng này. Sau 12 năm kể từ khi ra đời, Đối thoại Shangri-La thực sự đã trở thành một trong những diễn đàn đối thoại về hợp tác an ninh thực chất và hữu ích nhất ở khu vực. Tôi tin rằng sự có mặt của đông đảo các quan chức Chính phủ, các nhà lãnh đạo quân đội, các học giả có uy tín và toàn thể Quý vị tại đây thể hiện sự quan tâm, nỗ lực cùng nhau gìn giữ hòa bình và an ninh cho khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong một thế giới đầy biến động.


Thưa Quý vị và các bạn,
Ngôn ngữ và cách thể hiện dù có khác nhau, nhưng chắc chúng ta đều đồng ý với nhau: nếu không có lòng tin thì không thể thành công, việc càng khó càng cần có niềm tin. Việt Nam chúng tôi có câu thành ngữ “mất lòng tin là mất tất cả”. Lòng tin là khởi nguồn của mọi quan hệ hữu nghị, hợp tác; là liều thuốc hiệu nghiệm để ngăn ngừa những toan tính có thể gây ra nguy cơ xung đột. Lòng tin cần được nâng niu, vun đắp không ngừng bằng những hành động cụ thể, nhất quán, phù hợp với chuẩn mực chung và với thái độ chân thành.
Trong thế kỷ 20, Đông Nam Á nói riêng và Châu Á - Thái Bình Dương nói chung vốn là chiến trường ác liệt, bị chia rẽ sâu sắc trong nhiều thập kỷ. Có thể nói cả khu vực này luôn cháy bỏng khát vọng hòa bình. Muốn có hòa bình, phát triển, thịnh vượng thì phải tăng cường xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược. Nói cách khác, chúng ta cần cùng nhau chung tay xây dựng lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, thịnh vượng của Châu Á - Thái Bình Dương. Đó cũng là chủ đề mà tôi muốn chia sẻ với quý vị và các bạn tại diễn đàn hôm nay.
Trước hết, Việt Nam chúng tôi có niềm tin sâu sắc vào tương lai tươi sáng trong hợp tác phát triển của khu vực, nhưng với xu thế tăng cường cạnh tranh và can dự - nhất là từ các nước lớn, thì bên cạnh những mặt tích cực cũng tiềm ẩn những rủi ro tiêu cực mà chúng ta cần phải cùng nhau chủ động ngăn ngừa.
Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đang phát triển năng động và là nơi tập trung ba nền kinh tế lớn nhất thế giới và nhiều nền kinh tế mới nổi. Xu thế hợp tác, liên kết đa tầng nấc, đa lĩnh vực đang diễn ra hết sức sôi động và ngày càng thể hiện là xu thế chủ đạo. Điều này là cơ hội hết sức lạc quan cho tất cả chúng ta.
Tuy nhiên, nhìn lại bức tranh toàn cảnh khu vực trong những năm qua, chúng ta cũng không khỏi quan ngại trước những nguy cơ và thách thức ngày càng lớn đối với hòa bình và an ninh.
Cạnh tranh và can dự vốn là điều bình thường trong quá trình hợp tác và phát triển. Nhưng nếu sự cạnh tranh và can dự đó mang những toan tính chỉ cho riêng mình, bất bình đẳng, trái với luật pháp quốc tế, thiếu minh bạch thì không thể củng cố lòng tin chiến lược, dễ dẫn tới chia rẽ, nghi kỵ và nguy cơ kiềm chế lẫn nhau, ảnh hưởng tiêu cực tới hòa bình, hợp tác và phát triển.
Những diễn biến khó lường trên bán đảo Triều Tiên; tranh chấp chủ quyền lãnh thổ từ Biển Hoa Đông đến Biển Đông đang diễn biến rất phức tạp, đe dọa hòa bình và an ninh khu vực, trước hết là an ninh, an toàn và tự do hàng hải đang gây quan ngại sâu sắc đối với cả cộng đồng quốc tế. Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền.
Tôi muốn lưu ý thêm rằng lưu thông trên biển chiếm tỷ trọng và có ý nghĩa ngày càng lớn. Theo nhiều dự báo, sẽ có trên 3/4 khối lượng hàng hóa thương mại toàn cầu được vận chuyển bằng đường biển và 2/3 số đó đi qua Biển Đông. Chỉ cần một hành động thiếu trách nhiệm, gây xung đột sẽ làm gián đoạn dòng hàng hóa khổng lồ này và nhiều nền kinh tế không chỉ trong khu vực mà cả thế giới đều phải gánh chịu hậu quả khôn lường.
Trong khi đó, các nguy cơ xung đột tôn giáo, sắc tộc, chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, ly khai, bạo loạn, khủng bố, an ninh mạng… vẫn hiện hữu. Những thách thức mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu, nước biển dâng; dịch bệnh; nguồn nước và lợi ích giữa các quốc gia thượng nguồn, hạ nguồn của các con sông chung… ngày càng trở nên gay gắt.
Có thể nhận thấy những thách thức và nguy cơ xung đột là không thể xem thường. Mọi người chúng ta đều hiểu, nếu để xảy ra mất ổn định, nhất là xung đột quân sự, nhìn tổng thể thì sẽ không có kẻ thắng người thua - mà tất cả cùng thua. Vì vậy, cần khẳng định rằng, cùng nhau xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, thịnh vượng là lợi ích chung của tất cả chúng ta. Đối với Việt Nam chúng tôi, lòng tin chiến lược còn được hiểu trên hết là sự thực tâm và chân thành


Thứ hai, để xây dựng lòng tin chiến lược, cần tuân thủ luật pháp quốc tế, đề cao trách nhiệm của các quốc gia - nhất là các nước lớn và nâng cao hiệu quả thực thi của các cơ chế hợp tác an ninh đa phương.
Trong lịch sử thế giới, nhiều dân tộc đã phải gánh chịu những mất mát không gì bù đắp được khi là nạn nhân của tham vọng cường quyền, của xung đột, chiến tranh. Trong thế giới văn minh ngày nay, Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và các nguyên tắc, chuẩn mực ứng xử chung đã trở thành giá trị của toàn nhân loại cần phải được tôn trọng. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để xây dựng lòng tin chiến lược.
Mỗi quốc gia luôn phải là một thành viên có trách nhiệm đối với hòa bình và an ninh chung. Các quốc gia, dù lớn hay nhỏ cần có quan hệ bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cao hơn là có lòng tin chiến lược vào nhau. Các nước lớn có vai trò và có thể đóng góp nhiều hơn, đồng thời có trách nhiệm lớn hơn trong việc tạo dựng và củng cố lòng tin chiến lược. Mặt khác, tiếng nói đúng đắn cũng như sáng kiến hữu ích không phụ thuộc là của nước lớn hay nước nhỏ. Nguyên tắc hợp tác, đối thoại bình đẳng, cởi mở trong ASEAN, các diễn đàn do ASEAN khởi xướng và ngay Đối thoại Shangri-La của chúng ta cũng được hình thành và duy trì trên cơ sở tư duy đó.
Tôi hoàn toàn chia sẻ quan điểm của Ngài Susilo Bambang Yudhoyono, Tổng thống nước Cộng hòa Indonesia tại diễn đàn này năm ngoái là các nước vừa và nhỏ có thể gắn kết cùng các nước lớn vào một cấu trúc bền vững ở khu vực. Tôi cũng đồng tình với ý kiến của Ngài Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long trong bài phát biểu tại Bắc Kinh tháng 9/2012 cho rằng sự hợp tác tin cậy và trách nhiệm giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ đóng góp tích cực cho lợi ích chung của khu vực. Chúng ta đều hiểu rằng Châu Á - Thái Bình Dương đủ rộng cho tất cả các nước trong và ngoài khu vực cùng hợp tác và chia sẻ lợi ích. Tương lai của Châu Á - Thái Bình Dương đã và sẽ tiếp tục được tạo dựng bởi vai trò và sự tương tác của tất cả các quốc gia trong khu vực và cả thế giới, nhất là các nước lớn và chắc chắn trong đó không thể thiếu vai trò của ASEAN.
Tôi tin rằng các nước trong khu vực đều không phản đối can dự chiến lược của các nước ngoài khu vực nếu sự can dự đó nhằm tăng cường hợp tác vì hòa bình, ổn định và phát triển. Chúng ta có thể kỳ vọng nhiều hơn vào vai trò của các nước lớn, nhất là Hoa Kỳ và Trung Quốc, hai cường quốc có vai trò và trách nhiệm lớn nhất (tôi xin nhấn mạnh là lớn nhất) đối với tương lai quan hệ của chính mình cũng như của cả khu vực và thế giới. Điều quan trọng là sự kỳ vọng đó cần được củng cố bằng lòng tin chiến lược và lòng tin chiến lược cần được thể hiện thông qua những hành động cụ thể mang tính xây dựng của các quốc gia này.
Chúng ta đặc biệt coi trọng vai trò của một nước Trung Hoa đang trỗi dậy mạnh mẽ và của Hoa Kỳ - một cường quốc Thái Bình Dương. Chúng ta trông đợi và ủng hộ Hoa Kỳ và Trung Quốc khi mà các chiến lược, các việc làm của hai cường quốc này tuân thủ luật pháp quốc tế, tôn trọng độc lập chủ quyền của các quốc gia, vừa đem lại lợi ích cho chính mình, đồng thời đóng góp thiết thực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng chung.
Tôi muốn nhấn mạnh thêm là, các cơ chế hợp tác hiện có trong khu vực như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+)… cũng như Đối thoại Shangri-La đã tạo ra nhiều cơ hội để đẩy mạnh hợp tác an ninh đa phương và tìm giải pháp cho những thách thức đang đặt ra. Nhưng có thể nói rằng, vẫn còn thiếu – hay ít nhất là chưa đủ - lòng tin chiến lược trong việc thực thi các cơ chế đó. Điều quan trọng trước hết là phải xây dựng sự tin cậy lẫn nhau trước các thử thách, các tác động và trong tăng cường hợp tác cụ thể trên các lĩnh vực, các tầng nấc, cả song phương và đa phương. Một khi có đủ lòng tin chiến lược, hiệu quả thực thi của các cơ chế hiện có sẽ được nâng lên và chúng ta có thể đẩy nhanh, mở rộng hợp tác, đi đến giải pháp về mọi vấn đề, cho dù là nhạy cảm và khó khăn nhất.
Thứ ba, nói đến hòa bình, ổn định, hợp tác, thịnh vượng của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, chúng ta không thể không nói đến một ASEAN đồng thuận, đoàn kết và với vai trò trung tâm trong nhiều cơ chế hợp tác đa phương.
Khó có thể hình dung được một Đông Nam Á chia rẽ, xung đột trong Chiến tranh Lạnh lại có thể trở thành một cộng đồng các quốc gia thống nhất trong đa dạng và đóng vai trò trung tâm trong cấu trúc đang định hình ở khu vực như ASEAN ngày nay. Sự tham gia của Việt Nam vào ASEAN năm 1995 đánh dấu thời kỳ phát triển mới của ASEAN, tiến tới hình thành một ngôi nhà chung của tất cả các quốc gia Đông Nam Á đúng với tên gọi của mình. Thành công của ASEAN là thành quả của cả quá trình kiên trì xây dựng lòng tin và văn hóa đối thoại, hợp tác cũng như ý thức trách nhiệm chia sẻ vận mệnh chung giữa các nước Đông Nam Á.
ASEAN tự hào là một hình mẫu của nguyên tắc đồng thuận và lòng tin vào nhau trong các quyết định của mình. Đó là nền tảng tạo sự bình đẳng giữa các thành viên cho dù là một Indonesia với dân số gần 1/4 tỷ người và một Brunei với dân số chưa đến nửa triệu người. Đó cũng là cơ sở để các nước ngoài khu vực gửi gắm lòng tin vào ASEAN với tư cách là “người trung gian thực tâm” trong vai trò dẫn dắt nhiều cơ chế hợp tác khu vực.
Với tư duy cùng chia sẻ lợi ích, không phải “kẻ được – người mất”, việc mở rộng Cấp cao Đông Á (EAS) mời Nga và Hoa Kỳ tham gia, tiến trình ADMM+ đã được hiện thực hóa tại Việt Nam năm 2010 và thành công của EAS, ARF, ADMM+ những năm tiếp theo đã củng cố hơn nữa nền tảng cho một cấu trúc khu vực với ASEAN đóng vai trò trung tâm, đem lại niềm tin vào tiến trình hợp tác an ninh đa phương của khu vực này.
Tôi cũng muốn đề cập trường hợp của Myanmar như một ví dụ sinh động về kết quả của việc kiên trì đối thoại trên cơ sở xây dựng và củng cố lòng tin, tôn trọng các lợi ích chính đáng của nhau, mở ra một tương lai tươi sáng không chỉ cho Myanmar mà cho cả khu vực chúng ta.
Đã có những bài học sâu sắc về giá trị nền tảng của nguyên tắc đồng thuận, thống nhất của ASEAN trong việc duy trì quan hệ bình đẳng, cùng có lợi với các nước đối tác và phát huy vai trò chủ động của ASEAN trong những vấn đề chiến lược của khu vực. ASEAN chỉ mạnh và phát huy được vai trò của mình khi là một khối đoàn kết thống nhất. Một ASEAN thiếu thống nhất sẽ tự đánh mất vị thế và không có lợi cho bất cứ một ai, kể cả các nước ASEAN và các nước đối tác. Chúng ta cần một ASEAN đoàn kết, vững mạnh, hợp tác hiệu quả với tất cả các nước để chung tay vun đắp hòa bình và thịnh vượng ở khu vực, chứ không phải là một ASEAN mà các quốc gia thành viên buộc phải lựa chọn đứng về bên này hay bên kia vì lợi ích của riêng mình trong mối quan hệ với các nước lớn. Trách nhiệm của chúng ta là nhân thêm niềm tin trong giải quyết các vấn đề, trong tăng cường hợp tác cùng có lợi, kết hợp hài hòa lợi ích của quốc gia mình với lợi ích của quốc gia khác và của cả khu vực.
Việt Nam cùng các nước ASEAN luôn mong muốn các nước - đặc biệt là các nước lớn, ủng hộ vai trò trung tâm, nguyên tắc đồng thuận và sự đoàn kết thống nhất của cộng đồng ASEAN.
Trở lại vấn đề Biển Đông, ASEAN và Trung Quốc đã cùng nhau vượt qua một chặng đường khá dài và cũng không ít khó khăn để ra được Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) tại Hội nghị cấp cao ASEAN ở Phnom Penh năm 2002. Nhân kỷ niệm 10 năm ký và thực hiện DOC, các bên đã thống nhất nỗ lực tiến tới Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC). ASEAN và Trung Quốc cần đề cao trách nhiệm, cùng nhau củng cố lòng tin chiến lược, trước hết là thực hiện nghiêm túc DOC, nỗ lực hơn nữa để sớm có Bộ quy tắc ứng xử (COC) phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước LHQ về Luật biển 1982 (UNCLOS).
Chúng tôi cho rằng, ASEAN và các nước đối tác có thể cùng nhau xây dựng một cơ chế khả thi để bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải trong khu vực. Làm được như vậy sẽ không chỉ góp phần đảm bảo an ninh, an toàn, tự do hàng hải và tạo điều kiện để giải quyết các tranh chấp, mà còn khẳng định những nguyên tắc cơ bản trong việc gìn giữ hòa bình, tăng cường hợp tác, phát triển của thế giới đương đại.
Đối với các vấn đề an ninh phi truyền thống và các thách thức khác – trong đó có an ninh nguồn nước trên các dòng sông chung, bằng việc xây dựng lòng tin chiến lược, tăng cường hợp tác, hài hòa lợi ích quốc gia với lợi ích chung, tôi tin rằng chúng ta cũng sẽ đạt được những thành công, đóng góp thiết thực vào hòa bình, hợp tác, phát triển của khu vực.
Thưa Quý vị và các bạn,
Trong suốt lịch sử mấy ngàn năm, Việt Nam đã chịu nhiều đau thương, mất mát do chiến tranh gây ra. Việt Nam luôn khao khát hòa bình và mong muốn đóng góp vào việc củng cố hòa bình, tăng cường hữu nghị, hợp tác phát triển trong khu vực và trên thế giới. Để có một nền hòa bình thực sự và bền vững, thì độc lập, chủ quyền của các quốc gia dù lớn hay nhỏ cần phải được tôn trọng; những khác biệt về lợi ích, văn hóa… cần được đối thoại cởi mở trên tinh thần xây dựng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau.
Chúng ta không quên, nhưng cần khép lại quá khứ để hướng tới tương lai. Với truyền thống hòa hiếu, Việt Nam luôn mong muốn cùng các nước xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, phát triển trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi.
Việt Nam kiên định nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các quốc gia và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Việt Nam không ngừng nỗ lực làm sâu sắc thêm và xây dựng quan hệ đối tác chiến lược, đối tác hợp tác cùng có lợi với các quốc gia. Chúng tôi mong muốn thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với tất cả các nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ một khi nguyên tắc độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác bình đẳng cùng có lợi được cam kết và nghiêm túc thực hiện.
Nhân diễn đàn quan trọng này, tôi trân trọng thông báo, Việt Nam đã quyết định tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc, trước hết là trong các lĩnh vực công binh, quân y, quan sát viên quân sự.
Chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ. Việt Nam không là đồng minh quân sự của nước nào và không để nước ngoài nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam không liên minh với nước này để chống lại nước khác.
Những năm qua, việc duy trì tăng trưởng kinh tế khá cao đã tạo điều kiện cho Việt Nam tăng ngân sách quốc phòng ở mức hợp lý. Việc hiện đại hóa quân đội của Việt Nam chỉ nhằm tự vệ, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, không nhằm vào bất cứ quốc gia nào.
Đối với các nguy cơ và thách thức về an ninh khu vực đang hiện hữu như bán đảo Triều Tiên, Biển Hoa Đông, Biển Đông… Việt Nam trước sau như một kiên trì nguyên tắc giải quyết bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, tôn trọng độc lập chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau. Các bên liên quan đều phải kiềm chế, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực.
Một lần nữa, Việt Nam khẳng định tuân thủ nhất quán Tuyên bố nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông; nỗ lực làm hết sức mình cùng ASEAN và Trung Quốc nghiêm túc thực hiện DOC và sớm đạt được COC. Là quốc gia ven biển, Việt Nam khẳng định và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình theo đúng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước LHQ về Luật Biển 1982.
Thưa Quý vị và các bạn,
Hòa bình, hợp tác và phát triển là lợi ích, là nguyện vọng tha thiết, là tương lai chung của các quốc gia, các dân tộc. Trên tinh thần cởi mở của Đối thoại Shangri-La, tôi kêu gọi tất cả chúng ta bằng những hành động cụ thể hãy cùng chung tay xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược vì một Châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, hợp tác, thịnh vượng.
Xin cảm ơn Quý vị và các bạn”.
Với bài phát biểu này, ông đã hoàn thành xuất sắc vai trò diến giả chính tại diễn đàn Shangri- la. Cụm từ “xây dựng lòng tin chiến lược” được lặp lại đến 17 lần đã trở thành trung tâm cho các cuộc thảo luận sau đó. Giữa một diễn đàn có sự hiện diện của nhiều quốc gia lớn, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc, tiếng nói của người đại diện cho Đảng và Nhà nước ta vẫn đầy sức thuyết phục và có khả năng lan tỏa rõ rệt.
Cần nhấn mạnh rằng, đây không phải lần đầu tiên Thủ tướng Việt Nam “tỏa sáng” trong các diễn đàn, hội nghị như thế. Ông vẫn luôn là vậy. Một con người đã được tôi luyện trong quân ngũ từ năm 12 tuổi, đã trải qua rất nhiều cương vị khác nhau trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, kinh tế, ngoại giao,…sự bản lĩnh và tự tin luôn là phẩm chất nổi bật trong ông.
Vượt trên mọi hoài nghi, ông xứng đáng “đến từng xu” với vai trò Thủ tướng nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013

Kiều bào đóng góp tài liệu khẳng định chủ quyền của đất nước



 




        Vấn đề chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là vẫn đề đang nóng dân lên trên các diễn đàn trong nước và quốc tế. Việt Nam đã có rất nhiều tài liệu khẳng định chủ quyền của mình ở Biển Đông và được cộng đồng quốc tế công nhận những bằng chứng này là có thật và có giá trị lịch sự rất lớn, là cơ sở pháp lí hoàn hảo để Việt Nam khẳng định chủ quyền của mình ở Biển Đông.




      Tuy đã có nhiều tài liệu quý giá như thế, nhưng trên thế giới hiện đang có rất nhiều tài liệu khẳng định chủ quyền của Việt Nam mà chưa được tim thấy.




 




      Mới đây, một kiều bào của chúng tá ở Mĩ, Ông Trần Thắng. Ông làm việc tại một công xưởng sản xuất động cơ máy bay ở Hoa kì, đồng thời ông là chủ tịch viện Văn hóa Việt Nam tại Hoa Kỳ đã trao thêm cho UBND TP. Đã Nẵng những tài liệu lịch sự về chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.




     Tính đến nay ông Trần Thắng đã trao tặng cho Viện nghiên cứu kinh tế-xã hội TP. Đà Nẵng tổng cộng 170 bản đồ trong đó có 137 bản đồ góc, còn lại là bản đồ được Scan lại từ những bộ sưu tập bản đồ từ nước ngoài. Đây là những bản đồ được xuất bản ở các nước Anh, Đức, Úc, Canada, Mĩ, Hồng Kông trong khoảng thời gian từ 1626 đến 1980. Trong đó có 80 bản đồ ghi nhận lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam, 50 bản đồ thể hiện Hoàng Sa và Trường Sa  nằm sát lãnh thổ Việt Nam, 20 bản đồ thể hiện Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong vùng lãnh hải của Việt Nam.













 




     Đặc biệt, ông Trần Thắng còn sưu tập được 3 tập bản đồ do chính quyền Trung Quốc sản xuất trước đây, trong đó có thể thấy giới hạn lãnh thổ Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam.




Có thể nói, những tấm bản đồ, tài liệu mà ông đã trao tặng đều là những tấm bản đồ có giá trị chính trị, lịch sự rất lớn, cực kì giá trị, được đánh giá là những tài liệu then chốt để đập tan luận điệu sai trái, cắt đứt Đường lưỡi bò của Trung Quốc đang vẽ ra ở Biển Đông.




     Để ghi nhận và biết ơn những đóng góp tích cực trong việc nghiên cứu, sưu tập những tài liệu khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Ông, UBND TP. Đà Nẵng đã tặng bằng khen Ông Trần Thắng.




 




    Hành động thiết thực và có ý nghĩa của ông Thắng thật đáng hoan nghênh, và hi vọng rằng trong thời gian tới không chỉ Ông Thắng mà tất cả đồng bào ta ở nước ngoài sẽ có những đóng góp thiệt thực với tổ quốc để giúp đất nước tìm và tích lũy những tài liệu quý nhằm hoàn thiện và nâng tính pháp lí, giá trị lịch sự của dân tộc đối với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Cùng với hành động hướng về đất nước trên lĩnh vực kinh tế, thì những đóng góp như ông Thắng là những đóng góp có giá trị chính trị to lớn, thể hiện sự yêu nước của kiều bào trên tất cả mọi lĩnh vực.




 




Nguồn Blog congdanvietnam2




 




Thứ Hai, 17 tháng 6, 2013

Phật giáo và tự nhiên

Phật giáo

Nếu phải chỉ ra một tôn giáo nào có cái nhìn tiến bộ nhất về tự nhiên thì xin chỉ ra rằng đó là đạo Phật. Ngay từ thuở sơ khai, Đức Phật đã chỉ ra chân lý rằng muôn loài (chúng sinh) sống trên trái đất này đều có quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết với nhau, sự sinh tồn của loài này là điều kiện tồn tại của loài kia và ngược lại sự chấm dứt sự sống của một loài sẽ kéo theo sự diệt vong của loài khác, có cái này sẽ có cái kia, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt.

Không phải đợi đến ngày nay, vấn đề bảo vệ môi trường mới được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết của toàn nhân loại.

Những hậu quả nhãn tiền của việc hủy hoại môi trường đang đưa sự sống của loài người chúng ta đến gần hơn với những hiểm họa diệt vong. Đâu phải ngẫu nhiên mà những cơn bão lũ, những trận động đất, sóng thần, lốc xoáy đều để lại những hậu quả khôn lường, cướp đi sinh mạng của hàng ngàn con người? Cơn giận dữ của tự nhiên buộc chúng ta phải tỉnh ngộ, thay đổi nhận thức về môi trường, các quốc gia, các tổ chức và toàn xã hội đang nỗ lực để tìm ra những đối sách phù hợp. Phật giáo cũng không nằm ngoài số đó. Họ đã đề ra và thực hiện những giải pháp của mình để góp phần cải thiện vấn đề môi trường.

Tác nhân gây nên những vấn đề môi trường, môi sinh hiện nay không ai khác chính là con người. Sự bùng nổ của các ngành công nghiệp, sức ép về dân số, sự đô thị hóa nhanh chóng, vấn đề biến đổi khí hậu, mất cân bằng về sinh thái, khai thác kiệt quệ các nguồn tài nguyên tự nhiên… do con người trực tiếp hay gián tiếp gây ra đã làm thay đổi cuộc sống của chính con người. Do đó, việc giải quyết vấn đề môi trường cũng phải bắt đầu từ cái gốc ý thức cá nhân. Vấn đề này đã được Phật giáo đề cập và khuyến khích tín đồ, Phật tử thực hành từ khi Đức Phật còn tại thế. Đối với Phật giáo đồ, con đường giác ngộ thành Phật phải trải qua nhiều thử thách và một trong những điều kiện tiên quyết đối với người Phật tử là tâm từ bi đối với mọi chúng sinh.

Tất cả mọi loài sinh ra đều mang trong mình sự sống, bởi thế, đều cần được tôn trọng và bảo vệ. Đức Phật đã giáo hóa cho hàng đệ tử về ngũ giới cấm, một trong số đó là vấn đề cấm sát sinh. Ngoài nội dung giáo dục mang tư tưởng nhân đạo, tôn trọng sự sống muôn loài, thì giới cấm sát sinh trong đạo Phật cũng giúp việc giải quyết vấn đề môi trường, đó là bởi vì việc sát sinh nhằm phục vụ các nhu cầu của con người sẽ dẫn đến việc mất cân bằng sinh thái, tác động trực tiếp đến sự sống của con người. Những người sống bằng việc khai thác tài nguyên rừng, tài nguyên biển, những người cấy trồng, sản xuất nông nghiệp nếu chỉ khai thác tự nhiên bằng cách tận thu và tận diệt mà không để những tài nguyên đó có thời gian tái tạo sẽ làm kiệt quệ tài nguyên, khoáng sản. Đó là chưa kể việc khai thác những tài nguyên khó tái tạo được như than, dầu mỏ… sẽ làm cho các vấn đề môi trường thêm nghiêm trọng.

Với trí tuệ của bậc toàn giác, Đức Phật đã chỉ ra chân lí của sự sống, rằng mọi loài sống trên trái đất này đều có quan hệ hữu cơ, gắn bó khăng khít với nhau, sự sinh tồn của loài này là điều kiện tồn tại của loài kia và ngược lại sự chấm dứt sự sống của một loài sẽ kéo theo sự diệt vong của loài khác, có cái này sẽ có cái kia, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt. Chân lý đó của Đức Phật hoàn toàn phù hợp với quy luật sinh tồn tự nhiên, cái mà Đác- uyn mãi tận thế kỷ XIX mới khám phá ra. Trong chuỗi tự nhiên đó, loài này là nguồn sống của loài kia và vì vậy, nếu một mắt xích trong chuỗi đó bị cắt đứt sẽ làm đảo lộn, thay đổi và dẫn đến tuyệt diệt.

Đề ra giới cấm sát sinh, Đức Phật đang giáo hóa để hàng đệ tử của mình thực thi giáo lý từ bi nhưng cũng là trở về với tự nhiên, sống hòa mình với tự nhiên, hạn chế can thiệp vào tự nhiên để thỏa mãn mục đích của mình, đó cũng là cách hữu hiệu để bảo vệ môi trường, bảo vệ cuộc sống của chính con người.

Trong xã hội văn minh, hiện đại ngày nay, con người đã đạt đến trình độ khoa học kỹ thuật cao, điều đó cho phép con người lý giải được nhiều hiện tượng tự nhiên mà trước đây chưa thể giải thích được. Điều đó cũng khiến cho con người cho rằng mình đã chế ngự được tự nhiên, bắt tự nhiên phải phục tùng và vì thế con người cũng làm nhiều việc trái với tự nhiên, khai thác, bóc lột tự nhiên một cách thái quá làm ảnh hưởng, tác động đến chính cuộc sống của mình. Đức Phật đã chỉ ra rằng, tất cả những việc làm đó đều bắt nguồn từ tam độc tham, sân, si của mỗi con người.

Thực tế cho thấy những cá nhân hay phe nhóm vì lòng tham vô bờ của mình đã khiến họ trở nên mù quáng và tàn ác. Họ sẵn sàng sát hại, gây chiến tranh, làm cho nghèo đói, bệnh tật lan tràn, tiêu hủy mạng sống của con người, của các loài và môi sinh cũng từ đó ngày càng hư hoại thêm. Hoặc để thu được những nguồn lợi trước mắt, song song với việc khai thác tài nguyên bừa bãi, họ còn xả chất độc hại vào lòng đất, vào sông ngòi, vào không khí, làm ô nhiễm môi sinh, tác hại đến sức khỏe và gây bệnh tật cho nhiều người. Đức Phật giáo hóa đệ tử đưa những giáo lý của Phật giáo vào ngay cuộc sống hiện tại, không tham lam, không tàn ác, không mù quáng làm những việc tác hại đến muôn loài, qua cách sống thiểu dục, tránh những ham muốn làm ảnh hưởng đến muôn loài. Đó là cách sống hiểu biết và cao thượng, hạn chế tâm vị kỷ, không vì làm lợi cho riêng mình mà gây tổn hại đến người khác, đến các sinh vật khác, sống hài hòa với thiên nhiên, không phá hủy môi sinh, không khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi, chỉ khai thác những gì thiết yếu và khai thác có mức độ để tự nhiên có thời gian tái tạo, để những thế hệ kế tiếp của mình có thể tiếp tục được khai thác và hưởng lợi từ tự nhiên.

Khẳng định tinh thần Phật dạy về nếp sống hài hòa với thiên nhiên, những ngôi tự viện của Phật giáo cũng thường được xây cất trên đồi núi, hay trong khu rừng. Những ngôi tự viên với cây cối xanh tươi, rợp bóng mát, tỏa không khí trong lành và nếp sống an bình, yên tĩnh đang trở thành những điểm thu hút tăng ni, tín đồ cũng như khách thập phương thường tìm đến để hưởng được chốn tu tập lý tưởng và tìm thấy sự thanh thản cho tâm hồn và khỏe mạnh cho thân thể.

Cũng theo giáo luật của Phật giáo, hàng năm, chúng đệ tử xuất gia có ba tháng an cư kiết hạ để tập trung tu học giáo lý, kiểm chứng lại quá trình tu tập của mỗi tăng ni. Truyền thống đó của Phật giáo xuất phát từ tư tưởng từ bi của Đức Phật, ba tháng an cư của tăng đoàn cũng trùng vào mùa mưa của nước Ấn Độ xưa, việc hạn chế đi lại vào ba tháng mùa mưa cũng là để tránh vô tình sát hại những sinh linh nhỏ bé như các loại sâu bọ, côn trùng. Đó vừa là minh chứng về tinh thần bác ái mà đạo Phật chủ trương, vừa là hành động tích cực thể hiện tình yêu thiên nhiên và thái độ có trách nhiệm đối với môi trường của mỗi người con Phật.

Còn theo truyền thống của Phật giáo Bắc tông, vấn đề ăn chay của tăng ni, Phật tử cũng là một giải pháp hữu ích đối với vấn đề môi trường. Ngoài những tác dụng với con người về mặt sức khỏe đã được chứng minh, việc thực hành ăn chay cũng đem lại những tác dụng thiết thực cho vấn đề môi trường, giúp cải tạo và cân bằng môi trường sống. Việc hạn chế và không sử dụng những sản phẩm từ động vật sẽ giúp một số loài tránh khỏi nguy cơ diệt chủng, vĩnh viễn không còn tồn tại trên thế giới. Việc chủ trương ăn chay do Phật giáo Bắc tông khởi xướng không chỉ đem lại những lợi ích thiết thực cho người phát tâm thực hiện, tạo chuyển biến trong suy nghĩ của mọi người về vấn đề môi trường và việc giữ gìn, bảo vệ môi trường.

Trong những phương pháp bảo vệ môi trường thiết thực của đạo Phật thì ăn chay hiển nhiên là phương pháp đứng đầu. Việc ăn chay ngoài việc bảo vệ sức khỏe chính bản thân người ăn chay, đó còn là cách hiệu quả và khả thi nhất mà một người có thể làm ngay để bảo vệ môi trường sống. Chúng ta có thói quen ăn thịt từ lâu nên việc thay đổi là rất khó, do đó, người Phật tử bằng nhận thức và sự giác ngộ của mình, một cách thật nhẹ nhàng thực hiện việc ăn chay. Hiểu lợi ích của việc ăn chay để làm tăng niềm tin trong bản thân, để đủ lý lẽ và nghị lực cho việc ăn chay cũng chính là cách tốt nhất để người Phật tử thực hiện giáo lý của Đức Phật đồng thời đem lại những lợi ích cho việc bảo vệ môi trường, bảo đảm tương lai tốt đẹp cho thế hệ mai sau.

Quan điểm, giáo lý của đạo Phật về vấn đề môi trường quả đáng trân trọng!

Theo congdanvietnam2

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

ĐỪNG LẠM DỤNG TỪ " YÊU NƯỚC "

rân chủ

Hiện nay hai chữ yêu nước được nhiều người nhắc đến, nhưng thật ra khi nói đến yêu nước liệu có mấy ai hiểu đúng nghĩa của yêu nước, hay cứ luôn miệng tự cho mình là yêu nước hoặc phán cho những người khác là yêu nước mà thật sự chẳng biết có phải là yêu nước hay không

Vậy Yêu Nước phải như thế nào?

Thời Đất nước ta còn là thuộc địa của Pháp, dân ta là nô lệ của ngoại bang thì những người chống Pháp mong muốn giải phóng Dân tộc được xem là người yêu Nước, điều đó đã được khẳng định.

Sau đó, Mỹ đã đưa Quân đội và biết bao nhiêu là bom đạn vào Nước ta để gọi là khai hóa, phong trào đấu tranh chống Mỹ đã nổ ra, để hòa cùng dòng thác đấu tranh của những người yêu nước Việt Nam. Thì tại Mỹ, những người dân của họ cũng xuống đường buộc chính phủ Mỹ rút khỏi Miền nam Việt Nam.

Sau năm 1975, chiến tranh đã chấm dứt, Đất nước ta đã thống nhất liền một dãy từ Bắc xuống Nam. Có thể nói, Nước ta không có gì nhiều, chỉ có chiến tranh là nhiều, chiến tranh không ngơi nghỉ từ ngàn xưa đến nay. Cho nên những chữ hòa bình, độc lập được người Việt Nam vô cùng trân trọng và cầu mong Dân Tộc này đừng biết đến chiến tranh.

Hiện nay, có thể nói là người dân sống trong cảnh thanh bình nhất mặc dù nước láng giềng luôn ôm mộng bành trướng thường hay quấy nhiễu, nhưng dù sao họ cũng chỉ càn quấy và gây hấn trên vùng Biển Đông. Bản chất nước láng giềng của ta là thế thì muôn đời cũng là thế, nếu muốn Đất Nước được yên ổn phải nắm rõ bản chất của họ. Chính Quyền ta đã từng bước làm được điều đó.

Chống Trung Quốc là yêu nước đó là không sai, nhưng chống Trung quốc phải như thế nào mới là đúng. Có phải biểu tình gây ồn ào náo loạn tại Đất nước mình để chống một nước ở tuốt bên kia là hành động yêu nước?? Điều đó cũng giống như đứng tại nhà mình mà chửi rủa quậy phá người trong nhà để chống lại người hàng xóm cách bao nhiêu là cây số !! Làm như thế để họ nghe và họ sợ sao ??? Tại sao có rất nhiều những hành động yêu nước thiết thực khác sao không tham gia.

Điều đơn giản đó không phải các nhà dân chủ chúng ta không hiểu, nhưng vấn đề ở chổ, chống Trung Quốc chỉ là tấm bia để họ chống Chính quyền, âm mưu lật đổ Chính quyền, âm mưu đưa bạo loạn và chiến tranh quay trở lại Đất nước đang thanh bình này

Có thể Chính quyền có những cái không đúng, có thể có những tiêu cực và tham nhũng nhưng chống tham nhũng, chống tiêu cực khác với chống Chính quyền. Chính Quyền hiện nay là do người Việt Nam lãnh đạo, không hề có thế lực của ngoại bang khống chế và đang có chổ đứng ở Liên Hiệp Quốc, một Đất nước có độc lập, có chủ quyền thì không thể quy tội là Chính quyền bán nước. Đó chẳng qua là một luận điệu xuyên tạc để hợp thức hóa trò chống Chính quyền trở thành yêu nước

Yêu Nước có nhiều cách để thể hiện, không phải chống đối, bôi nhọ Đất Nước thì được cho là người yêu Nước, thế còn lại 90 triệu dân đang sinh sống trên Đất Nước thì họ không phải là người yêu Nước, và cả một số kiều bào sống ở hải ngoại 1 lòng hướng về Tổ Quốc, một lòng mong muốn xây dựng Đất Nước ngày một tốt đẹp hơn thì họ cũng không phải là người yêu nước, chỉ có người chống Chính quyền là người yêu nước ???

Xin hãy yêu Nước bằng chính con tim của mình, bằng lòng nhiệt huyết xây dựng Đất nước chứ ko phải yêu nước bằng vật chất từ một thế lực chống đối ở hải ngoại, không phải yêu nước bằng cách dựa vào ngoại bang để âm mưu lật đổ Chính quyền trong nước.
Hai chữ Yêu Nước tuy dễ đọc nhưng không phải ai cũng hiểu

Nguồn Internet

 

Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2013

Tình cảm của người dân Thái Nguyên với đồng chí Hồ Đức Việt




 dong chi Ho Duc Viet




Có lẽ không nơi nào vị cố Trưởng ban Tổ chức Trung ương để lại ấn tượng sâu sắc với quần chúng như mảnh đất Thái Nguyên anh hùng, nơi ông đã có thời gian làm Bí thư tỉnh ủy trong gần 3 năm (từ tháng 10/1999 đến tháng 9/2002).

Tâm sự của đồng chí Đồng Khắc Thọ, người may mắn được làm việc với đồng chí Hồ Đức Việt trong khoảng thời gian ấy là những lời tri ân xúc động nghẹn ngào, đồng thời cho ta thấy một phần nhân cách vị cán bộ lãnh đạo cấp cao nay đã lìa xa trần thế.

“Tối thứ bảy (1/6/2013), qua báo Thái Nguyên điện tử, tôi mới biết anh Hồ Đức Việt, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, nguyên Bí thư tỉnh ủy Thái Nguyên do lâm bệnh nặng đã từ trần vào chiều 31/5. Một nỗi buồn xâm chiếm lòng tôi. Tuy chỉ làm Bí thư tỉnh ủy gần 3 năm (từ tháng 10/1999 đến tháng 9/2002) nhưng anh Việt đã đề lại ấn tượng sâu sắc về một người sống hết mình với Thái Nguyên, tạo ra cú hích đổi mới cách nghĩ, cách làm trong Đảng bộ, chính quyền cơ sở, ban ngành cũng như các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Còn nhớ, hơn 12 năm trước (ngày 20/12/2000), khi tôi làm Giám đốc Bảo tàng tỉnh, đang cho anh em dàn dựng Triển lãm ảnh, tư liệu Đại hội và thành quả, phục vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (nhiệm kỳ 2001- 2005) tại Rạp chiếu bóng Thái Nguyên, thì thấy anh Lương Đức Tính (lúc ấy là Phó Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh), đi cùng một anh cao trên 1m70, trạc ngoài 50 tuổi, khuôn mặt rắn rỏi, da sạm nắng, tác phong nhanh nhẹn, anh Tính giới thiệu: Đây là anh Hồ Đức Việt, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy xuống kiểm tra công tác chuẩn bị Đại hội…Anh Việt xem rất kỹ mảng ảnh, tư liệu, các bản trích rồi góp ý: Thọ nên điều chỉnh nội dung trưng bày theo thứ tự thời gian, phân thành các mảng (Chính trị, An ninh, Quốc phòng, Kinh tế, Văn hóa- xã hội, giới thiệu các huyện, thành thị, các sở, ban, ngành,…) sao cho cô đọng, dễ hiều, phong phú  hơn…Qua góp ý của anh Việt, tôi đã chỉnh sửa, bổ sung Triển lãm, được UBND tỉnh tặng bằng khen. Từ đó, mỗi khi đi làm triển lãm tại thành phố Thái Nguyên hoặc lưu động, tôi đều nhớ lời anh: Cô đọng, phong phú, dễ hiều.

Tiếp đó, khoảng tháng 7-2001, tôi kiến nghị với Bí thư tỉnh ủy Hồ Đức Việt đề nghị Chính phủ cho tiếp tục triển khai dự án Đầu tư phục hồi, bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị Khu di tích lịch sử ATK Định Hóa. Nhờ có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của anh Việt, ngay sau đó dự án này đã được triển khai tiếp khá hiệu quả: Bảo tồn được một số di tích gốc, khánh thành nhà trưng bày ATK Định Hóa cùng một số công trình văn hóa; hệ thống đường giao thông tại một số xã ATK được trải nhựa, điện lưới Quốc gia được đưa về 11 xã, thị trấn trong huyện…”

Sau nhiệm kỳ làm Bí thư tỉnh ủy Thái Nguyên, đồng chí Hồ Đức Việt lên trung ương nhận nhiệm vụ mới, người kế nhiệm là đồng chí Lương Đức Tính. Vốn gần gũi và hiểu khá rõ về “anh Việt”, vị cựu Bí thư Thái Nguyên chia sẻ: “Anh Việt vốn ít nói, khiến một số người tưởng là khó tính, nhưng thực ra anh sống rất tình cảm. Là một nhà toán học, đồng thời tham gia công tác Đoàn, công tác Đảng, đặc biệt là công tác tổ chức từ rất sớm, anh Việt có phương pháp làm việc mang đậm dấu ấn tư duy toán học: sâu sắc, loogic, ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểủ”. Thật vậy, ngay từ thời phổ thông, Hồ Đức Việt đã là học sinh xuất sắc toàn diện, đặc biệt giỏi về toán và các môn tự nhiên. Sau này, ông nghiên cứu chuyên sâu về toán- lý và có bằng tiến sĩ. Sự nghiệp học hành, công tác đã ảnh hưởng nhiều đến phương pháp làm việc của ông.

Với tác phong của một Bí thư Đoàn Thanh niên, Hồ Đức Việt rất chịu khó đi cơ sở và bám sát quần chúng, bản thân ông cũng rất sâu sắc, sát sao trong mọi công việc. Đồng chí Tính chia sẻ: “Có chuyến tôi cùng anh Việt đi khào sát để mở tuyến đường từ xã Thượng Nung qua các xã Nghinh Tường- Sảng Mộc của huyện vùng cao Võ Nhai, anh bị trượt chân ngã đứt cả dép mà vẫn không bỏ cuộc”.

Có lẽ những kỷ niệm dạt dào về vị cố Bí thư tỉnh ủy này sẽ không bao giờ phai nhạt trong tân trí người dân Thái Nguyên. Một lãnh đạo có tài, có tâm và tầm như ông Việt, tiếc thay, đã ra đi quá sớm. Cầu chúc hương hồn ông yên nghỉ nơi suối vàng!



Nguồn blog congdanvietnam2


Thứ Năm, 13 tháng 6, 2013

Sự thật nền kinh tế Hàn Quốc

Hiện nay, có rất nhiều thông tin, sự bàn tán về những vấn đề xoay quanh những vẫn đề kinh tế Việt Nam và Hàn Quốc. Đại loại như sau:

Hàn Quốc rất tương đồng với Việt Nam, là một nước thuộc địa đến 1945. Sau đó Hàn Quốc trải qua chiến tranh nam-bắc đến 1954 mới yên.Ta thử so sánh giai đoạn 30 năm 1960-1990 của Hàn Quốc và giai đoạn 30 năm 1981-2010 của Việt Nam.Sau chiến tranh, cũng có sự nghèo khó như nhau:GDP trên đầu người Hàn Quốc 1960 là $155/người/nămGDP trên đầu người Việt Nam năm 1981 là $251/người/năm Ta thử xem xét với xuất phát điểm gần như không có cách biệt quá lớn, 30 năm sau tình trạng phát triển của hai nước VN và Hàn Quốc như thế nào?30 năm sau, với mức tăng GDP/đầu người gấ[ 34 lần, Hàn Quốc trở thành cường quốc và chuyển sang thể chế dân chủ theo quy luật tất yếu, nhưng công lao của thế hệ chuyên quyền vì sự chấn hưng của dân tộc Hàn, như Pak Chung Hee vẫn được ghi nhận. Bằng chứng là con gái của nhà độc tài sau hơn 30 năm lại được dân chúng bầu làm tổng thống.Tuy vậy, còn ở VN sau 30 năm cũng hòa bình xây dựng, cũng cùng mức xuất phát điểm, nhưng đưa đất nước tăng trưởng được 4, 25 lần tức là chỉ bằng 1/8 của Hàn Quốc. Việt Nam vẫn là nước nghèo nàn lạc hậu.  Và đã có những bình luận, ý kiến như thế này:1. Dù luôn luôn lớn tiếng sự tăng trưởng là thành tích lớn của lãnh đạo Việt Nam, là ưu việt của chế độ, nhưng con số so sánh nói trên là bằng chứng không cần bình luận, đâu là sự thật.2. Cơ chế quản lí kinh tế được hình thành và tồn tại nhiều năm ở Việt Nam và nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước đây, mà đặc trưng cơ bản là nhà nước quản lí và kế hoạch hoá nền kinh tế một cách tập trung quá mức: mọi việc làm theo lệnh từ trên giao xuống (lệnh kế hoạch, lệnh giá cả, lệnh cấp phát tài chính, lệnh cấp phát vật tư, lệnh giao nộp sản phẩm...) theo quan hệ hiện vật là chủ yếu. CCQLTTQLBC trên thực tế không coi trọng sự vận dụng các quy luật kinh tế, nhất là quy luật giá trị, các quan hệ hàng hoá - tiền tệ và thị trường, cũng như coi nhẹ hạch toán kinh doanh và trên thực tế là không xem trọng hiệu quả kinh tế. CÁC BẠN THẤY ĐẤY NỀN KINH TẾ "TẬP CHUNG BAO CẤP" CỦA CHÚNG TA KHÔNG TUÂN THEO KINH TẾ THỊ TRƯỜNG NÊN THẰNG MỸ NÓ CÓ CẤM VẬN HAY KO THÌ Ở THỜI ĐIỂM TRƯỚC 1990 CŨNG KO QUAN TRỌNG(VÌ TA KO BUÔN BÁN VỚI NÓ VÀ CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA MÀ),TA CHỈ BẮT CHƯỚC NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CỬA TƯ BẢN KHI TA SẮP CHẾT ĐÓI THÔI, CÒN TRONG CHIẾN TRANH TA ĐÚNG LÀ BỊ TÀN PHÁ NHƯNG TA CŨNG ĐƯỢC HƯỞNG LỢI NHIỀU LẮM NHÉ, MỸ XÂY DỰNG BAO NHIÊU TÒA NHÀ, BAO NHIÊU CẦU ĐƯƠNG Ở SG (CHẮC BẠN CŨNG HIỂU TẠI SAO NGƯỜI TA GỌI SG THỜI ĐÓ LÀ HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG CHỨ),VÀ CŨNG VÌ CHÚNG TA BỊ CHIẾN TRANH NÊN ĐƯỢC CÁC NƯỚC VIỆN TRỢ BAO NHIÊU TIỀN BẠC ĐẤY VẬY KHÔNG THỂ ĐỔ LỖI HOÀN TOÀN CHO CHIẾN TRANH ĐƯỢC, TÔI DANG MUỐN TRANH LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI SAI LẦM CỦA CHÚNG TA THÔI”.

 binh luan



v.v.......


      Một điều có thể nhận thấy ở những quan điểm trên đó là họ chỉ so sánh những con số mà họ không giải thích nguyên nhân tại sao lại có nhưng con số đó, đặc biệt là không giải thích vì sao kinh tế Hàn Quốc lại có sự phát triển nhanh như thế. Vậy nguồn gốc sâu xa đằng sau một nền kinh tế phát triển với tốc độ chóng mặt của Hàn Quốc là gì?


Sự thật là gì?


     Cũng như Việt Nam thì sau chiến tranh hàn quốc không có gì ngoài một đống đổ nát. Thế nhưng chỉ sau một thời gian ngắn họ đã làm nên được điều thần kỳ, đã biến Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước công nghiệp khiến nhiều nước đang phát triển phải "ước ao". Đã có sự cố gắng cải cách của chính phủ và nhân dân Hàn Quốc để có được một nên kinh tế như ngày hôm nay, tuy nhiên sự quyết định một phần lớn và tạo nền móng cho kinh tế Hàn Quốc là sự viện trợ to lớn của Mỹ, một đồng minh, ông anh lớn của Hàn Quốc.

Sự thật là những khoản viện trợ khổng lồ, sự đầu tư lớn, chuyển giao công nghệ, phương tiện sản xuất của Mỹ là một trong những điều kiện không thể thiếu cho quá trình phát triển kinh tế Hàn Quốc trong suốt nhiều năm sau chiến tranh. Sau khi thanh lập nước Đại Hàn dân quốc năm 1948 quan hệ Hàn - Mỹ đã bắt đầu thực sự được xác lậpVào thời kỳ đầu, từ năm 1945 đến 1949, thông qua “Các quỹ đặc biệt dưới sự điều hành của chính phủ nhằm giảm nhẹ khó khăn cho các vùng chiếm đóng”  (viết tắt là GARIOA), Mỹ đã viện trợ cho Hàn Quốc gần 500 triệu USD. Trong những năm chiến tranh, Hàn Quốc tiếp tục nhận viện trợ lương thực, thuốc men, nhà tạm và các thứ cần thiết khác. Chiến tranh hai miền triều tiên đã hủy hoại thủ đô Seoul và nhiều thành phố khác; nhiều nhà máy, hầm mỏ, đoàn tàu đánh cá, hệ thống tưới tiêu, nhà cửa, làng mạc... bị tàn phá nặng nề, người dân rơi vào cảnh túng đói.

Đứng trước tình hình đó, Mỹ đã dành một khoản viện trợ to lớn vào thời điểm nước Mỹ cực thịnh cho mảnh đất này. Tính từ năm 1945 đến 1960, tổng số tiền mà Mỹ viện trợ cả trực tiếp và gián tiếp cho Hàn Quốc  lên đến 3 tỷ USD. Riêng trong giai đoạn 1954 - 1961, Mỹ đã viện trợ cho Hàn Quốc khoảng 2 tỷ USD, hầu hết là theo hình thức viện trợ không hoàn lại.

cụ thể:   Viện trợ của Mỹ cho Hàn Quốc (1945 - 1961)


(Đơn vị: nghìn USD)

















































































































Năm

Viện trợ không hoàn lại

Viện trợ theo hình thức tín dụng

Tổng số

1945

4.934

-

4.934

1946

49.496

-

49.496

1947

175.371

-

175.371

1948

175.593

-

175.593

1949

116.509

-

116.509

1950

58.706

-

58.706

1951

106.542

-

106.542

1952

161.327

-

161.327

1953

194.170

-

194.170

1954

153.925

-

153.925

1955

236.707

-

236.707

1956

326.705

-

326.705

1957

382.892

-

382.892

1958

321.272

-

321.272

1959

222.204

12.740

234.944

1960

245.393

6.100

251.493

1961

201.554

3.200

204.754

                       Nguồn: Bank of Korea, economic Statistic Annals.

Không chỉ viện trở về mặt tiền bạc, phương tiện kĩ thuật Mĩ còn cho các công ty đến và mở các văn phòng chi nhánh tại đây, kêu gọi các đồng minh khác ở châu âu giúp đỡ cho Hàn Quốc.  Điều này đã tạo động lực, kích thích được kinh tế Hàn Quốc từ từ phục hồi và phát triển.


Trong gia đoạn này, khi mà Hàn Quốc nhận được sự viện trở to lớn của Mĩ để khôi phục, phát triển kinh tế thì ở Việt Nam, cả nước đang thực hiện cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, tất cả của cải làm ra là để phục vụ cho chiến tranh, các nguồn lực đều hướng về chiến tranh. Và chiến tranh đã tiêu tốn, phá hoại đất nước Việt Nam cực kì nặng nề.


Kế tiếp sau năm 1961, Mĩ vân suy trì sự quan tâm của mình đối với Hàn Quốc nhưng vì cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã làm cho kinh tế Mĩ cũng như chính trị ở Mĩ có phần không vững vàng như trước nước, thêm vào đó thì Nhật Bản và Đức là những quốc gia bắt đầu phát triển mạnh mẽ và là đối thủ đáng gờm của Mĩ trên trường quốc tê vì vậy mà quan hệ kiểu cho vay đã dần dần thay thế kiểu viện trợ trước đây. Điều quan trọng hơn hết là Hàn Quốc vẫn nhận được sự giúp đỡ khác từ các nước đồng minh của Mĩ và không bị cấm vận. Trong Khi đó Việt Nam đang vào thời kì nóng bỏng nhất cuộc chiến tranh, luôn bị Mĩ cấm vận và nguồn viện trở chủ yếu là từ Liên Xô và Trung Quốc, tuy nhiên viện trở này chủ yếu là phục vụ cho chiến tranh.


 su tan pha cua chien tranh

mien bac Kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào miền Bắc, nhưng nó luôn chịu sự oanh tạc của máy bay Mĩ

 

     Trong khi đó, ở Hàn Quốc:

 

 on dinh

Hàn Quốc ổn đinh, xây dựng và xây dựng


Đầu tư trực tiếp vào Hàn Quốc của Mỹ (1962 - 1979)

(Đơn vị:nghìn USD)








































Năm

Tổng số

Tỷ lệ (%)*

1962-1966

15.987

75,2

1967-1971

32.664

33,9

1972-1976

87.536

15,4

1977

11.797

11,5

1978

13.832

13,8

1979

29.857

23,5

*Tỷ lệ đầu tư trực tiếp của Mỹ trong tổng số đầu tư vào Hàn Quốc

Nguồn: Economic Planning Board, White Paper on Foreign Investment in Korea,1981


   Hàn Quốc đã tiến hành công cuộc công nghiệp hóa chỉ trong vài thập kỉ và kết quả Hàn Quốc đã trở thành một trong những con rồng của Châu Á, với tốc độ tăng trưởng GNP cũng như mức độ cải thiện đời sống của công chúng rất đáng khâm phục. Tuy nhiên vì quá phụ thuộc và sự viện trở của các nước tư bản nước ngoài, đặc biệt là từ Mĩ nên đã làm cho nợ nước ngoài tăng với tốc độ cực nhanh và ảnh hưởng không tốt cho nền kinh tế Hàn Quốc. Chính sách đẩy nhanh phát triển nhiều đơn vị công nghiệp dùng nhiều tư bản đã đòi hỏi số tiền vay rất lớn, đặc biệt là thị trường tài chính nước ngoài để vừa nhập máy móc thiết bị vừa nhập nguyên liệu, bán thành phẩm, do vậy nợ nước ngoài tăng nhanh. Nếu vào năm 1973, số nợ là 4,4 tỷ USD, thì tới năm 1979 đã lên tới 20,3 tỷ, tức là tăng 372% ( theo Vũ Đăng Hinh (1996), Hàn Quốc: nền công nghiệp trẻ trỗi dậy, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội., Tr. 64.). Mỹ là một trong những chủ nợ lớn nhất của Hàn Quốc chi tới ngày nay. Mĩ là người đống vai trò chính trong việc tạo nên một nước Hàn Quốc như ngày hôm nay vì vậy, Không ai khác, Mỹ chính là thị trường rộng lớn tiêu thụ nhiều nhất hàng xuất khẩu của Hàn Quốc, nên nền kinh tế Hàn Quốc phải gắn chặt với sự bành trướng của thị trường Mỹ là một tất yếu. Sự lệ thuộc vào nguồn vốn, thị trường và kể cả hàng nhập khẩu để tái sản xuất trong nước đã làm số lượng nợ công của Hàn Quốc vào Mỹ và nước ngoài ngày càng tăng lên qua các năm. Và cứ như vậy, họ đã không thể thoát khỏi “vòng tròn ma quỷ” mà Mỹ và các nước phương tây đã tròng vào cổ mình. Có thể nói Nền kinh tế Hàn Quốc là một sản phẩm của Mĩ và các nước phương tây chứ không phải chỉ riêng của người dân Hàn Quốc.


Nguồn Tiengnoitre

Thứ Ba, 11 tháng 6, 2013

Công bố kết quả lấy phiếu tín nhiệm - Một thành công lớn

Lần đầu tiên, quốc hội thay nhân dân thực hiện việc lấy phiếu tính nhiệm cho các chức danh quan trọng, đây là hoạt động chính trị thu hút được sự quan tâm của đông đảo nhân dân cả nước.
 cac dai bieu bo phieu

                các đại biểu bỏ phiếu tín nhiệm cho 47 chức danh


Sau hai ngày làm việc, Sáng nay 11-6, Quốc hội đã công bố kết quả sự tính nhiệm của các đại biểu quốc cho 47 chức danh chủ chốt của đất nước, theo kết quả công bố thì không có đồng chí nào bị " mất tính nhiệm" khi mà số lượng  phiếu tính nhiệm thấp không bị quá nửa số đại biểu quốc hội.

Cụ thể kết quả lấy phiếu tính nhiệm cho 47 chức danh như sau:























































































































































































































































































































































TT

                    Họ và tên

Kết quả tín nhiệm

Tín nhiệm cao

Tín nhiệm

Tín nhiệm thấp

1

Ông Trương Tấn Sang, Chủ tịch nước

330

133

28

2

Bà Nguyễn Thị Doan, Phó chủ tịch nước

263

215

13

3

Ông Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội

328

139

25

4

Ông Uông Chu Lưu, Phó chủ tịch Quốc hội

323

155

13

5

Ông Huỳnh Ngọc Sơn, Phó chủ tịch Quốc hội

252

217

22

6

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó chủ tịch Quốc hội

372

104

14

7

Bà Tòng Thị Phóng, Phó chủ tịch Quốc hội

322

145

24

8

Ông Phan Xuân Dũng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội.

234

235

22

9

Ông Nguyễn Văn Giàu, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội

273

204

15

10

Ông Trần Văn Hằng, Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội

253

229

9

11

Ông Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách Quốc hội

291

189

11

12

Ông Nguyễn Văn Hiện, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội

210

253

28

13

Ông Nguyễn Kim Khoa, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Quốc hội

267

215

9

14

Ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội

294

180

18

15

Bà Trương Thị Mai, Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề Xã hội của Quốc hội

335

151

6

16

Bà Nguyễn Thị Nương, Trưởng ban Công tác đại biểu Quốc hội

292

183

17

17

Ông Nguyễn Hạnh Phúc, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội

286

194

12

18

Ông Ksor Phước, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc

260

204

28

19

Ông Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Quốc hội

241

232

19

20

Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ

210

122

160

21

Ông Nguyễn Thiện Nhân, Phó thủ tướng Chính phủ

196

230

65

22

Ông Nguyễn Xuân Phúc Phó thủ tướng Chính phủ

248

207

35

23

Ông Hoàng Trung Hải, Phó thủ tướng Chính phủ

186

261

44

24

Ông Vũ Văn Ninh, Phó thủ tướng Chính phủ

167

264

59

25

Ông Trần Đại Quang, Bộ trưởng Bộ Công an.

273

183

24

26

Ông Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

323

144

13

27

Ông Hoàng Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

90

286

116

28

Ông Nguyễn Thái Bình, Bộ trưởng Bộ Nội vụ

126

274

92

29

Ông Nguyễn Văn Bình, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

88

194

209

30

Bà Phạm Thị Hải Chuyền, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

105

276

111

31

Ông Hà Hùng Cường, Bộ trưởng Bộ Tư pháp

176

280

36

32

Ông Trịnh Đình Dũng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng

131

261

100

33

Ông Vũ Đức Đam, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ

215

245

29

34

Ông Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Bộ Công Thương

112

251

128

35

Ông Phạm Vũ Luận, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

86

229

177

36

Ông Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

238

233

21

37

Ông Cao Đức Phát, Bộ trưởng Bộ  Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

184

249

58

38

Ông Giàng Seo Phử, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc

158

270

63

39

Ông Nguyễn Minh Quang, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

83

294

104

40

Ông Nguyễn Quân, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ

133

304

43

41

Ông Nguyễn Bắc Son, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông

121

281

77

42

Ông Đinh La Thăng, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải

186

198

99

43

Bà Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế

108

228

146

44

Ông Huỳnh Phong Tranh, Tổng thanh tra Chính phủ

164

241

87

45

Ông Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư

231

205

46

46

Ông Trương Hòa Bình, Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao

195

260

34

47

Ông Nguyễn Hòa Bình, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao

198

269

23


Sau khi có kết quả tín nhiệm, quốc hội đã biểu quyết để xác nhận kết quả tín nhiệm, đã có 471 đại biểu đồng ý (đạt 94,58%) đã thể hiện sự tin tưởng và đánh giá của các đại biểu Quốc hội.


    Theo đánh giá của các đại biểu quốc hội sau khi công bố kết quả thì kết quả như trên là tương đối sát với thực tiễn, tương đối đúng với khả năng, phẩm chất của những người được giao các chức danh. Các đại biểu đồng tình và phấn khởi trước kết quả đạt được. Lần đầu tiên lấy phiếu tín nhiệm và thu được kết quả thế này, nhiều đại biểu mạnh dạn gọi đây là thành công lớn của Quốc hội.


    Về phần mình, thay mặt Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã nhận định rằng kết quả đã phản ánh đúng tình hình đất nước hiện tại, từ kinh tế xã hội, đối ngoại, tới quốc phòng an ninh, tư pháp.“Có thể nói nhìn chung cách đánh giá của các đại biểu khá khách quan” - ông Hùng nhấn mạnh. Về cơ bản, Quốc hội đã hoàn thành nhiệm vụ quan trọng trước đất nước, nhân dân. Chủ tịch Quốc hội cũng đề nghị cần rút kinh nghiệm cho lần lấy phiếu tiếp theo cũng như để chuẩn bị cho lần lấy phiếu tại các HĐND tới đây.


  Theo nhận định thăm dò dư luận mới nhất thì nhân dân hoàn toàn đồng tình với kết quả lấy phiếu tính nhiệm mà Quốc hội đã thay nhân dân, đất nước thực hiện và công bố sáng nay. Nhân dân cả nước tin tưởng và mong rằng, Quốc hội sẽ rút kinh nghiệm những thiếu sót qua lần lấy phiếu đầu tiên vừa qua, cho lần lấy phiếu lần sau, mà gần nhất là lấy phiếu tại các HĐND tới đây được thành công.

 Nguồn blog tiengnoitre

 
Chia sẻ