Nhãn

Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013

Asean - tâm điểm của thế giới (Kỳ 2)

Vì một Asean ổn định và thịnh vượng



Như vậy, trước sự quan tâm, “ve vãn”, của các cường quốc hàng đầu thế giới hiện nay, Asean cần xây dựng cho mình một chiến lược phát triển như thế nào, để đảm bảo sự ổn định, phát triển và thịnh vượng chung cho toàn khối như tôn chỉ thành lập.


Nhìn lại lịch sử 46 năm phát triển của mình, có thể thấy để tạo nền tảng phát triển ổn định và bền vững như ngày nay, yếu tố quan trọng hàng đầu chính của Asean là giữ gìn đoàn kết nội khối. Trước sự điều chỉnh chiến lược trong quan hệ với khu vực của các cường quốc, đòi hỏi các nước Asean cần nhận thức rõ đâu là thách thức và đâu là cơ hội để phát triển.


Có thể thấy, cơ hội của Asean lúc này đó chính là môi trường hòa bình, ổn định, và bầu không khí hợp tác, hữu nghị, đây là những nhân tố vô cùng thuận lợi để phát triển đất nước. Mặt khác, trong mối quan hệ này, Asean cũng đối mặt với một thách thức to lớn, đó là: việc mỗi nước đều có lợi ích riêng, nếu không tranh thủ sẽ mất cơ hội phát triển và ngược nếu quá coi trọng lợi ích quốc gia mà không quan tâm đến lợi ích của cộng đồng khu vực có thể dẫn tới bị chia rẽ, cô lâp với các nước trong khu vực.


Trước những cơ hội và thách thức như vậy, để đảm bảo hòa bình, ổn định và thịnh vượng cho khu vực, thiết nghĩ Asean cần thực hiện nhất quán các vấn đề cơ bản sau:


Thứ nhất, Asean cần khẩn trương và tranh thủ tốt các cơ hội do những mối quan hệ với các cường quốc mang lại. Bên cạnh đó, Asean cần nhận thức sâu sắc thách thức trong mối quan hệ với các cường quốc hiện nay để có những đối sách phù hợp giải quyết.


Thứ hai, trong tất cả các vấn đề, Asean cần giữ vững nguyên tắc đoàn kết và thống nhất trong nội khối, luôn coi đây là vấn đề then chốt quyết định sự ổn định và phát triển của Asean.


Thứ ba, các nước Asean cần có chiến lược khôn ngoan đảm bảo sự cân bằng của các bên trong nội khối, đảm bảo nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa lợi ích riêng của quốc gia và lợi ích chung của khu vực.


Cuối cùng, các nước Asean cần luôn bình tĩnh, thận trọng tính toán và quan sát nhằm đánh giá đúng mục đích và ý đồ của các bên trong các mối quan hệ đa phương và song phương. Đồng thời cần kiên trì thực hiện mục tiêu chiến lược, không ngừng thúc đẩy hòa bình và hợp tác trong khu vực. Từ đó, duy trì và tạo dựng một Asean phồn vinh và thịnh vượng.


---Khôi Nguyên---

 

Asean - tâm điểm của thế giới (Kỳ 1)

Chưa bao giờ trong lịch sử 46 năm của mình, Asean lại chịu những tác động, ảnh hưởnglớn như vậy từ sự quan tâm của các cường quốc hàng đầu thế giới như hiện nay, điều gì đang diễn ra.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel




Thời gian qua, có lẽ Asean là khu vực diễn ra các hoạt động ngoại giao sôi động nhất thế giới. Asean đã liên tiếp đón các của lãnh đạo của những cường quốc hàng đầu thế giới là Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản.


Trong những tháng đầu năm, Thủ tướng Nhật Shinzo Abe đã thăm 3 nước trong khu vực, ông là nhà lãnh đạo đầu tiên của Nhật bản kể từ năm 1977, dành sự quan tâm nhiều đến vậy cho khu vực này.


Trong khi đó, thời gian này Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Chuck Hagel vẫn đang tiếp tục chuyên công du 4 nước Đông Nam Á của mình, ngày 27/8 vừa qua Mỹ đã quyết định bán cho Inđônêxia 8 máy bay trực thăng Apache AH64 phiên bản mới nhất. Đây là lần đầu tiên, Mỹ bán phiên bản trực thăng này cho nước ngoài, có lẽ đây cũng là “món quà” làm thân đối với xứ sở Vạn đảo để Mỹ đứng chân tại khu vực này.


Không để chậm chân hơn các Mỹ và Nhật Bản, Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị cũng đã kịp đến thăm 4 quốc gia Asean trong giai đoạn vừa qua, để thể hiện rõ đường lối ngoại giao của Trung Quốc theo tinh thần Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc. Vậy các nước quan tâm đến Asean vì điều gì:


Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị đến thăm Việt Nam



Đối với Mỹ, nhận thấy vị trí địa lý chiến lược của Asean trên tuyến hàng hải quan trọng nhất của thế giới, Mỹ rất muốn kiểm soát khu vực này. Bên cạnh đó, Mỹ còn nhận thấy tiềm năng phát triển rất lớn của khu vực này – khu vực phát triển năng động bậc nhất thế giới hiện nay. Đồng thời Mỹ cũng muốn tăng cường vị thế và sức mạnh cho các đồng minh thân cận như Nhật Bản, Australia, Philipine… Cuối cùng, sâu xa hơn, tăng cường quan hệ với Asean cũng là điều kiện thuận lợi để Mỹ tạo ra thế kiềm tỏa, kìm chế Trung Quốc.


Đối với Trung Quốc, tăng cường quan hệ với Asean trước hết là tạo ra những đồng minh “người hàng xóm” thân cận, đồng thời cũng tăng cường sự phân hóa nội khối, trong giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ, qua đó tạo ra ưu thế cho Trung Quốc trong giải quyết tranh chấp lãnh thổ khi đàm phán song phương, nhất là đối với những tranh chấp trên biển Đông.


Còn đối với Nhật Bản, cường quốc này cũng nhận thấy, vị thế của Asean ngày càng được khẳng định, nhất là trong các vấn đề quốc tế. Bên cạnh đó, khu vực này tập trung các nước có nền kinh tế năng động và phát triển, nhu cầu hợp tác kinh tế, trao đổi công nghệ là rất lớn, trong khi đó nhu cầu xuất khẩu công nghệ, tìm kiếm thi trường đầu tư của Nhật Bản là vô cùng lớn. Cuối cùng, trong khối Asean còn có một số quốc gia có bất đồng quan điểm, tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, tranh thủ quan hệ với Asean, tạo ra những đồng minh thân cận trong giải quyết tranh chấp lãnh thổ, tranh chấp kinh tế với các cường quốc khác và nhất là Trung Quốc cùng là điều mà Nhật Bản hướng đến.


Với những mục tiêu như vậy, có thể thấy Asean chính là khu vực sôi động, thu hút sự quan tâm hàng đầu và điểm đến của các cường quốc trong những tháng đầu năm vừa qua.


--- Khôi Nguyên---

 Nguồn Tiếng nói thế hệ trẻ


Bạn hiểu “258” được bao nhiêu ?

Nhắc đến điều luật 258 thì có lẽ sẽ có rất nhiều vấn đề bên lề để bàn luận. đối với những người có kiến thức về chính trị còn non kém thì liệu họ hiểu được điều luật này được bao nhiêu mà đã có ý kiến này ý kiến nọ? một số blogger trẻ còn thể hiện “ sự thiếu hiểu biết” về chính trị trên trang cá nhân của họ về điều luật này và khi “ sự thiếu hiểu biết” của họ thể hiện quá giới hạn cho phép thì họ đã phải trả giá cho hành động của mình. Tuy nhiên một số người vẫn chưa hiểu được rõ về điều luật 258 nên vẫn có những tư tưởng sai lầm , trái chiều với cái mục đích thực sự của điều luật này mang lại. hay là họ muốn thể hiện chính kiến mà họ đang theo đuổi? nếu đúng như thế thì thật là thất vọng cho họ khi mà họ còn rêu rao, còn tự nhận là họ sẽ là đại diện cho thế hệ trẻ việt nam, là thế hệ trẻ của việt nam, là một người yêu nước, yêu dân tộc. có lẽ họ chưa hiểu được ý nghĩa tích cực của điều luật 258, họ không biết họ đang làm gì và sẽ phải chịu hậu quả mà hành động thiếu suy nghĩ của họ sẽ để lại hậu quả như thế nào. Phải chăng những người đó đang đánh mất đi lòng tự tôn của dân tộc ta?


Capture


Những người mà tôi gọi là “ thiếu hiểu biết” về chính trị, về điều luật 258 này lại mang chuyện này đi rêu rao với thế giới rằng cần phải thay đổi, xóa bỏ, họ lấy cái cơ sở nào để tự tin nói như vậy? hay là có một thế lực nào sau lưng họ hay không? Họ quên một điều rằng: pháp luật của nhà nước ta là việc thế chế hóa tâm tư, mong muốn, nguyện vọng của toàn thể nhân dân, không vì lợi ích cá nhân của bất kỳ một ai. Việc yêu cầu xóa bỏ , thay đổi điều luật này phải chăng là đang đi ngược lại với điều đó? Bạn sẽ giải thích thế nào nếu nói rằng bạn đang đi sai con đường, đang đánh mất đi tinh thần dân tộc, ý thức bảo vệ tổ quốc trước các thế lực thù địch ? nói cho đúng hơn là bạn đang tự tách mình ra khỏi một cộng đồng người việt yêu nước nếu bạn có suy nghĩ và hành động thiếu hiểu biết về điều luật 258 . bạn thử tưởng tượng nếu xóa bỏ điều 258 thì ai sẽ là người được lợi trong chuyện này? Rõ rang rằng một khi điều 258 không còn hiệu lực thì các đối tượng chống phá nhà nước ta sẽ công khai, tự do hoạt động và dễ dàng đạt được mục đích của bọn chúng. Khi đó thì liệu bạn hối hận có còn kịp không ? bạn hãy thử nhìn những kẻ ngu ngốc, thiếu hiểu biết về chính trị, và kể cả những kẻ vì một thứ lợi ích nào đó mà nghe theo các thế lực thù địch chống phá nhà nước ta thì sẽ thấy được cái hậu quả mà bọn chúng phải gánh chịu khi có hành động yêu cầu xóa bỏ, thay đổi điều luật 258. đơn giản là vì chúng phải chịu trách nhiệm cho việc đi ngược lại với lợi ích với tâm tư nguyện vọng của toàn thể nhân dân nước ta, tạo điều kiện cho kẻ thù lợi dụng phá vỡ cuộc sống vốn đang yên bình mà chúng ta đang được hưởng thụ. vì thế mà hãy chứng tỏ bạn là người có hiểu biết nhất định về chính trị để thứ nhất là bạn hiểu được ai mới là người mong muốn người dân nước việt được sống trong hạnh phúc và no ấm,  và thứ hai để bạn không còn ngu ngốc đi tin lời, hành động theo bọn chống phá nhà nước ta, phá hủy sự bình yên, ổn định mà đảng và nhà nước ta đang ngày một cố gắng , nỗ lực mang lại cho chính bạn và toàn thể người dân việt nam.


 ---Sacly Nguyễn---

Thứ Năm, 29 tháng 8, 2013

Nội chiến tại Syria – Giờ G đã điểm



Các tàu chiến dồn dập tới Syria


Như vậy,Syria đang đứng trước nguy cơ bị tấn công quân sự từ bên ngoài-một nguy cơ hiện hữu.


Sau khi đoàn thanh sát viên của Liên hợp quốc thông báo tạm dừng công việc tìm kiếm bằng chứng về việc sử dụng vũ khí hóa học gây ra cái chết cho hơn 1000 người tại ngoại ô thủ đô Damascus của Syria một ngày vì lý do an ninh. Ngay lập tức, Mỹ, Anh, Pháp đã tuyên bố lên án và cáo buộc chính phủ Syria sử dụng vũ khí hóa học sát hại dân thường và phe đối lập tại Syria đồng thời chuẩn bị lực lượng và phương tiện để tấn công Syria-một quốc gia có chủ quyền.


Liệu sẽ có một kịch bản với cáo buộc sử dụng vũ khí hạt nhân và tấn công lật đổ chế độ cầm quyền tại Irắc sẽ tái diễn tại Syria; Mỹ cùng các đồng minh của mình có sa lầy vào một cuộc chiến như tại Afganistan hay Irắc?


Về vấn đề này, tổng thông Barack Obama cho biết, hiện nay Mỹ sẽ cân nhắc việc tấn công Syria nhưng hạn chế về quy mô và thời gian.


Trong khi đó, tàu hải quân của Anh và Mỹ đã áp sát và sẵn sàng tấn công vào Syria. Đất nước Syria đang bị kiềm tỏa từ các hướng bởi Mỹ và đồng minh.


Trong một diễn biến khác, Nga và Trung Quốc lại kịch liệt phản đối, coi việc Mỹ hoãn cuộc họp bàn về hòa bình cho Syria là một sai lầm. Và sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu Mỹ và đồng minh vào can thiệp quân sự vào Syria trong khi chưa có sự đồng ý của Liên hợp quốc. Điều này sẽ dẫn đến những nguy cơ bất ổn mới và có thể là tai họa thảm khốc cho khu vực Bắc Phi và Trung Đông.


Cũng đồng quan điểm với Nga, Hội nghị không chính thức các Bộ trưởng quốc phòng Asean đang nhóm họp tại Brunei cũng thống nhất quan điểm khẳng định, một hành động quân sự lúc này là quá vội vàng và kêu gọi Mỹ cần đợi kết luận chính thức của Liên hợp quốc trước khi có các hành động cụ thể.


Cùng thời điểm đó, hãng tin Reuter đưa tin phe đối lập tại Syria đã được Mỹ và Anh thông báo việc sẽ tấn công vào nước này.


Đáp lại các tuyên bố và diễn biến trên, Chính phủ Syria tuyên bố sẵn sàng đáp trả mọi cuộc tấn công và Syria sẽ tự vệ bằng mọi nguồn lực, trong mọi trường hợp và đồng thời cũng nhấn mạnh Mỹ, Anh và Pháp sẽ nhận những đòn đáp trả thích đáng khi tấn công Syria.


Với những diễn biến căng thẳng như vậy, có thể thấy, một cuộc can thiệp quân sự của Mỹ và đồng minh vào Syria đang đến rất gần, một vấn đề đặt ra là một cuộc tấn công quân sự liệu có chấm dứt được những mâu thuẫn vốn có của một cuộc nội chiến đã kéo dài hơn 29 tháng vừa qua. Có lẽ, câu trả lời là trước những thiệt hại to lớn do cuộc nội chiến kéo dài hơn 2 năm qua tại Syria gây ra, đã đến lúc phải kết thúc cuộc nội chiến đẫm máu này nhưng kết thúc bằng một cuộc tấn công quân sự của Mỹ và đồng minh là điều không nên xảy ra vào lúc này - vì hậu quả của nó sẽ thật khó lường.


---------Minh Anh--------


 

Một mùa xuân mới lại về trên quê hương Việt Nam

Hòa trong không khí vui tươi, phấn khởi của những ngày mùa thu lịch sử, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ra sức học tập, thi đua chào mừng ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ( 2/9/1945-2/9/2013). Trong giờ phút thiêng liêng lịch sử của 68 năm về trước, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, chính quyền nhà nước thuộc về tay nhân dân. Đây là một bước ngoặt lịch sử quan trọng, phản ánh sự tất yếu, khách quan phù hợp với yêu cầu bức thiết của lịch sử, phù hợp với ý chí, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân.


Capture


Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 đã mở ra cho toàn thể dân tộc Việt Nam một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập tự do, kỷ nguyên nhân dân làm chủ đất nước. Đã lâu lắm rồi, nhân dân ta mới có những ngày tháng “độc lâp - tự do – hạnh phúc”, được làm chủ vận mệnh đất nước. Điều đó là nhờ vào sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. 68 năm đã trôi xa, nhưng những ngày tháng 9 lịch sử năm ấy vẫn còn nguyên vẹn trong trái tim dân tộc Việt Nam. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Việt Nam có truyền thống anh hùng, bất khuất, tôi cảm thấy hạnh phúc khi mình là người con của đất nước Việt Nam, càng hạnh phúc và tự hào hơn khi trong cơ thể mình đang chảy dòng máu của Dân tộc Việt. Lúc còn ấu thơ, tôi vẫn thường nghe Bà kể về những ngày tháng đấu tranh vì độc lập dân tộc của ông cha. Trong trí tưởng tượng non nớt của tôi lúc ấy chỉ biết có rất nhiều máu và nước mắt đã đổ xuống cho dân tộc. Một đứa trẻ như tôi lúc ấy làm sao hiểu nỗi những khổ đau, mất mát mà dân tộc ta đã phải chịu đựng. Ánh mắt tròn xoe của tôi nhìn vào khuôn mặt khắc khổ của Bà, tôi hỏi: “Tại sao phải chiến tranh hả Bà?”. Bà nhìn tôi bằng ánh mắt trìu mến, Bà nói: “Vì độc lập, tự do, vì một cuộc sống không còn sự áp bức, bóc lột của quân xâm lược, chúng ta phải cầm súng chiến đấu, cháu à”. Thì ra là thế! Bà tôi nói không sai, chỉ có độc lập tự do thì mới có cuộc sống hạnh phúc, ấm no. Khi lớn lên, chân lý đó càng thấm đượm vào tư tưởng của tôi. Chiến tranh đã lùi xa, tôi và những bạn trẻ trên đất nước Việt Nam chỉ biết chiến tranh qua sách vở, qua những lời ru, tiếng hát của các bà các mẹ. Nhưng sâu thẳm trong trái tim chúng tôi đó là tình yêu quê hương đất nước tha thiết, niềm tin sâu sắc vào Đảng. Đảng đã cho chúng tôi cuộc sống tốt đẹp hôm nay, cho chúng tôi hiểu về tinh thần cách mạng cao cả, chân chính là gì, rèn luyện chúng tôi vượt qua khó khăn thử thách, chống lại bọn phản cách mạng, bọn bán nước cầu vinh.


Một mùa xuân mới lại về trên quê hương Việt Nam, đó là mùa của chiến thắng, mùa của độc lập tự do được gieo mầm trên chính mảnh đất anh hùng này. Ngày 2/9/1945, cả thế giới phải ngước nhìn dân tộc Việt Nam, từ một dân tộc bị hai tầng áp bức, bóc lột đã kiên cường đập tan xiềng xích của kẻ thù, rủ bùn đứng dậy và dõng dạc tuyên bố rằng: “ Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ có sức ảnh hưởng to lớn đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, mà còn là nguồn cổ vũ to lớn cho các dân tộc bị áp bức, bóc lột đứng lên tự giải phóng dân tộc.



Thắng lợi đó là nhờ vào sự lãnh đạo tài giỏi của Đảng, nhờ vào sự đoàn kết mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam. Điều quan trọng hơn đó chính là nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, được xây dựng, vun đắp trong đấu tranh cách mạng. Ngoài ra, sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là kết quả của mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng nhân dân. “Nhân dân là của Đảng, Đảng là của Nhân dân” chân lý đó mãi mãi trường tồn cùng thời gian. Cho dù các thế lực thù địch có điên cuồng chống phá như thế nào đi chăng nữa thì Đảng và quần chúng nhân dân vẫn là một mà thôi. Nhìn lại chặng đường 68 năm đã đi qua, từ khi nhà nước thuộc về nhân dân đầu tiên ra đời ( nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa), nước ta đã có những bước phát triển đột phá quan trọng, nền kinh tế phát triển ổn định, đời sống nhân dân ngày càng sung túc hơn. Từ một nước lúc mới thành lập chỉ có khoảng 1,2 triệu đồng trong kho bạc, nay đã phát triển cao, tổng GDP năm 2011 của cả nước ước khoảng 119 tỷ USD và GDP đầu người đạt 1.300 USD/người/năm. Những số liệu này chứng tỏ, đất nước ta đang trên đà phát triển, vị thế đất nước được nâng cao trên trường Quốc tế.


Trong không khí sục sôi, phấn khởi của những ngày Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hôi Chủ nghĩa Việt Nam, cả nước hướng về thủ đô Hà Nội, nơi của 68 năm về trước đã từng diễn ra thời khắc lịch sử của đất nước. Hàng triệu con tim đập chung một nhip đập, hòa trong bài hát “Tiến quân ca” để kỉ niệm những ngày tháng hào hùng đó. Chúng tôi, những thế hệ tương lai của đất nước mãi mãi khắc trong tim tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc và xin hứa sẽ ra sức học tập và làm theo tấm gương, đạo đức Hồ Chí Minh để xứng đáng là thế hệ tương lai của đất nước.


Nguyễn Anh

Bàn về nhân cách làm người của Lê Hiếu Đằng

Mỗi con người khi sinh ra đều có trong mình những nhân cách nhất định. Tôi, bạn và tất cả mọi người cũng thế. Nhân cách con người đi cùng chúng ta, trưởng thành cùng chúng ta từ lúc chào đời cho đến lúc ra đi về cõi vĩnh hằng. Không có nhân cách nào là xấu mà cũng không có nhân cách nào đẹp hoàn toàn, chỉ có những nhân cách trong sáng khi chúng ta biết “mài giũa”, “giữ gìn”, “trân trọng” nó.


Capture


Tục ngữ Việt Nam có câu: “ Giấy rách phải giữ lấy lề”. Con người cũng vậy, dù trong hoàn cảnh nào thì cũng phải biết coi trọng nhân cách của bản thân, tránh làm những điều tổn hại đến danh dự, nhân phẩm. Đặc biệt quan trọng đối với những người là cán bộ, đảng viên, thân mang trọng trách phục vụ lợi ích của nhân dân thì càng phải quý trọng nhân cách như chính mạng sống của mình. Tuy nhiên, cũng có một số nhỏ là cán bộ, đảng viên, do suy thoái đạo đức, bị các thế lực thù địch mua chuộc, lợi dụng, đang tâm bán đi nhân cách làm người của mình, trở thành những kẻ biến chất, những kẻ cơ hội. Điển hình là những kẻ khoác trên mình cái mác “nhân sĩ, trí thức yêu nước” trong nhóm “kiến nghị 72”. Đa số trong cái nhóm “lừa đảo” này là những bậc tiền bối, từng nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền nhân dân. Trước đây, khi chưa bị nhiễm phải cái tư tưởng “bán nước cầu vinh”, các cụ trong nhóm kiến nghị 72 là những cán bộ gương mẫu, trung thành với Đảng, với nhân dân, là những nhân cách cao cả cho thế hệ sau noi theo. Ấy thế mà, chỉ vì ham mê “danh vọng, quyền lực”, những con người từng là những nhân cách tốt đẹp đã trở nên tha hóa ,tự mình dày xéo lên chính nhân cách của chính mình.


Bọn chúng còn “khua môi múa mép” lừa gạt nhân dân, lừa gạt chính những đồng đội, đồng chí cùng đồng cam cộng khổ với mình trong chiến tranh. Trong số những kẻ bị thối nát về nhân cách làm người trong “nhóm kiến nghị 72” có Lê Hiếu Đằng – một tên “đồ tể” cơ hội, nhiều thủ đoạn. Tồn tại bên lũ “rận 72” Lê Hiếu Đằng càng nổi trôi hơn về độ “nhơ bẩn”, độ “thối tha”. Chính sự nổi trội thái quá của Lê Hiếu Đằng đã đưa con người Đằng lên đến đỉnh cao của một kẻ “trơ tráo” trong nhân cách, trong đạo đức. Lê Hiếu Đằng trước đây là một chiến sỹ tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam, từng “vào sống ra chết” cho lý tưởng giải phóng dân tộc. Vì thế nhân cách của một chiến sỹ yêu nước từ đó được ươm mầm phát triển. Được sự tin tưởng của Đảng, của nhân dân, Lê Hiếu Đằng vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng, giữ nhiều chức vụ trong chính quyền nhân dân. Hơn 40 năm tuổi Đảng, đáng lẽ ra nhân cách con người của Đằng phải được đơm hoa kết trái. Vậy mà chỉ trong phút chốc Lê Hiếu Đằng đã đạp đổ tất cả những gì mà ông ta cố gắng tạo dựng, phá tan lòng tin của Đảng, của nhân dân. Người ngày xưa từng đứng cùng chiến tuyến chống cái ác nay trở thành kẻ câu kết với bọn xấu xa để chống đối lại dân tộc, chống lại con đường mà Đảng và nhân dân đang đi.


 Lê Hiếu Đằng hôm nay đã khác hoàn toàn so với Lê Hiếu Đằng ngày xưa. Trong con người của Đằng bây giờ còn lại chỉ là sự “thối tha bẩn thỉu” của kẻ ác ôn. Nhân cách cao cả nay không còn nữa, Lê Hiếu Đằng sống “vật vờ” như một “con chó” bên bè lũ phản động, bán nước. Tha hóa trong nhân cách, lối sống, đạo đức, Đằng ngày càng sa ngã vào con đường tội lỗi, để đến hôm nay phải sống chung với cái ác mà ông ta đã gây ra. Lê Hiếu Đằng đã tự hủy hoại đi tất cả nhân cách của bản thân. Về đạo đức cách mạng, Lê Hiếu Đằng đã trở thành “con sâu” điển hình của sự đi xuống về mặt đạo đức. Cơ hội, xảo trá là biểu hiện rõ nhất trong con người của Đằng. Đạo đức của một người cách mạng chân chính là vì lợi ích thiết thực của nhân dân, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc Việt Nam. Nhưng Lê Hiếu Đằng đã không làm được như vậy, thay vào đó là sự phản bội lại chính quê hương, dân tộc nơi Đằng sinh ra, phản bội lại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân. Nhân cách của một cán bộ, đảng viên gương mẫu đã bị Đằng hủy hoại không thương tiếc.


Về nhân cách làm người, Lê Hiếu Đằng bộc lộ bản chất xấu xa của một con người nham hiểm, nhiều thủ đoạn. Trong đợt lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Lê Hiếu Đằng và bè lũ (nhóm kiến nghị 72) đã lợi dụng quyền tự do dân chủ để có những hành động đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, đến quyền lợi của nhân dân. Đằng kêu gọi những kẻ mất hết nhân cách làm người như Đằng, đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, xóa bỏ sự lãnh đạo tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, chủ trương thành lập một đảng dân chủ xã hội do Lê Hiếu Đằng cầm đầu. Hành động đó đã vạch trần âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân của Đằng và nhóm kiến nghị 72. Các cụ ngày xưa đã có câu: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, là muốn dạy chúng ta phải biết nhớ ơn những người đã có công ơn với ta. Vậy mà những cái cơ bản nhất của đạo làm người mà Đằng cũng không có. Đằng ngang nhiên giẫm đạp lên công ơn mà nhân dân đã đùm bọc Đằng trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, rủ bỏ đi ánh sáng của Đảng, của Chủ nghĩa Mác – Lênin đã giúp Đằng thoát khỏi kiếp trâu ngựa để quay lại phản bội dân tộc.


Một kẻ “ăn cháo đá bát” như Lê Hiếu Đằng không xứng đáng để chúng ta gọi là con người, vì con người không bao giờ bán rẻ nhân cách của mình, chỉ có những kẻ mang “tâm hồn quỷ dữ” như Đằng mới bán đi nhân cách.


---Nguyễn Anh---


Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

Nhiệm vụ của báo chí Việt Nam

          Gần đây có nhiều quan điểm phản ánh báo chí Việt Nam đang “hôn mê và hổ thẹn từ tiềm thức đến vô thức”. Vậy quan điểm đúng đắn là như thế nào? Và giải quyết gia sao? Tôi có những quan điểm như sau.


-         Nước ta với quy mô gần hơn 700 tờ báo lớn nhỏ vậy sự quản lý và quy hoạch và quản lý là điều quan trọng, và hơn thế nữa là bảo vệ nó trước những tư tưởng xấu là điều quan trọng. Vì nó là tiếng nói của Quốc gia. Mục đích của báo chí là đúng sự thật cập nhật, thực tiễn và giúp ích cho đời sống nhân dân. Sự quản lý lỏng lẻo của các tờ báo là quan trọng vì khi những nhà viết báo chưa nhận thức được tầm quan trọng của thông tin mình đăng có thể gây ảnh hưởng đến một cá nhân tổ chức nào đó, vậy nên nếu không quản lý việc đăng của các tờ bào vô tình đã làm hại các nhà viết báo và cũng chính tờ báo đó, một phần khác nếu đăng bừa bãi nó sẽ là cơ hội tốt cho các phẩn tử quá khích trọc ngoáy, bôi nhọ nền báo chí trong nước, chúng còn có thể tiếp tay, cung cấp thông tin cho nước ngoài làm hại đến chính sách của Đảng, và vi phạm quyền và lợi ích của nhân dân. Nhiều những vấn đề nóng vừa qua như “Đoàn Văn Vươn”, “báo Thanh Niên suýt bị khởi tố vì mạo phạm Ngân hàng nhà nước qua bài Rửa vàng”… những vấn đề nóng đã bị các đối tượng xấu xuyên tạc, lợi dụng nó để bôi nhọ chính quyền, và lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước.


Capture


-         Hiện nay nhiều tờ báo thường hay đưa những vấn đề như giật gân, cướp, hiếp dâm… nhưng vấn đề đó nóng và cần có những bộ óc sang suốt để chọn lọc thông tin, loại bỏ những tin tức không tốt, tiếp thu kinh nghiệm, giáo dục quản lý con cái chứ không phải là phê phán nó. Xã hội rất nhiều tệ nạn, điều quan trọng nhận là nhận thức của người dân cần suy nghĩ và đánh giá vấn đề đó một cách khách quan, từ đó rút ra những bài học.


-         Vấn đề đất đai là vấn đề nhạy cảm và không phải bất cứ vấn đề nào cũng đưa lên báo. Nó cần được giải quyết ổn thỏa để chấp hành theo chính sách của Đảng và Nhà Nước. Nếu đưa lên thì sẽ làm rạn nứt tình đoàn kết của Đảng, Nhà Nước và Nhân dân.


-         Những trang mạng như: basam, Bauxite Vietnam, Quechoa, Chuacuuthe… luôn muốn nganh hàng như các tờ báo khác, nhưng những thông tin mà các blogst này đăng tải đều là những thông tin khoét sâu vào mẫu thuẫn của quần chúng nhân dân với chính quyền, mà nó không được tháo gỡ, đề ra phương pháp giải quyết. Lúc nào cũng nêu cao khẩu hiệu đa nguyên đa đảng, ủng hộ biểu tình… Những blogger này đều không công khai, thậm chí chúng còn không được một văn bản pháp lý nào công nhận thì lấy đâu mà đòi chuyên nghiệp hóa báo chí, đội ngũ cộng tác viên tăng trưởng, lấy đâu ra mà đòi quyền lợi được như các tờ báo có uy tín trong nước. Những tờ báo trong nước đều được Nhà Nước hỗ trợ tạo điều kiện, còn các blog này nguồn vốn chủ yếu từ nước ngoài, cộng tác viên là các phần tử cơ hội chính trị, chống đối, thù hằn giai cấp, thậm chí là sự chỉ đạo của nước ngoài.


-         Hơn thế nữa báo chí phải tuân theo luật báo chí, đảm quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân, Để phát huy vai trò của báo chí trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc theo đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam, Căn cứ vào Điều 4, Điều 67 và Điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam


Một số phương pháp, hướng đi, mục tiêu cho báo chí trong nước.(trích lời nói của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng)


Một là, báo chí nước ta cần phát huy truyền thống tốt đẹp của mình, ra sức khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, tiếp tục tuyên truyền có hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, Nghị quyết của các Hội nghị Trung ương, Nghị quyết của Bộ Chính trị và phản ánh kịp thời việc học tập, nghiên cứu, triển khai ở các cấp, các ngành, địa phương nhằm tạo sự thống nhất, đồng thuận về chính trị, tư tưởng trong toàn Đảng và toàn xã hội. Đổi mới công tác tuyên truyền và nâng cao hiệu quả việc tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.


Tuyên truyền, cổ vũ, động viên mọi người dân và doanh nghiệp trong cả nước thực hiện có kết quả các Nghị quyết của Quốc hội và các chính sách, pháp luật, giải pháp chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, cùng nhau nỗ lực vượt qua khó khăn thách thức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế của đất nước ta.


Tuyên truyền, nhân rộng các phong trào thi đua yêu nước, các tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến, những gương người tốt, việc tốt; quảng bá hình ảnh tốt đẹp của đất nước và con người Việt Nam; tăng cường hữu nghị và hợp tác cùng có lợi, cùng phát triển với các nước.


Hai là, báo chí cần thực hiện tốt hơn nữa, chính xác hơn nữa việc phát hiện và phê phán mạnh mẽ tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, các tiêu cực và tệ nạn xã hội; góp phần tích cực ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống. Báo chí của chúng ta phải luôn là một lực lượng nòng cốt, quan trọng trong đấu tranh phản bác các quan điểm, các thông tin sai trái, vu khống, xuyên tạc tình hình của đất nước; cũng như những thông tin gây phân tâm, làm phức tạp tình hình và không có lợi cho đất nước.


Ba là, các cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp, các Bộ, Ban ngành và các cơ quan Trung ương phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động báo chăm lo xây dựng đội ngũ những người làm báo “vừa hồng, vừa chuyên”; thực hiện nghiêm túc quy định về phát ngôn, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho báo chí; xử lý đúng pháp luật các việc làm sai trái trong hoạt động báo chí. Thực hiện tốt Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ (số 919/CT-TTg 19/6/2010) về việc Tiếp tục nâng cao nhận thức, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam.


Bốn là, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thời cơ thuận lợi và thách thức khó khăn đều lớn, đan xen nhau, đòi hỏi những người làm báo của chúng ta phải luôn tu dưỡng, rèn luyện để không chỉ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, nhanh nhạy tiếp cận với thông tin mới, công nghệ làm báo mới mà còn phải có phẩm chất tốt đẹp, bản lĩnh chính trị vững vàng, nhạy cảm và tỉnh táo trong xử lý thông tin và đưa thông tin. Mọi thông tin trên báo chí phải xuất phát từ cái tâm trong sáng của nhà báo cách mạng Việt Nam, tất cả vì lợi ích của quốc gia dân tộc, vì quyền lợi chính đáng của người dân và phải nhằm tạo nên sự đồng thuận cao trong xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.


Năm là, tiếp tục tổ chức thật tốt Giải Báo chí quốc gia. Tuyên truyền sâu rộng hơn nữa, thu hút ngày càng nhiều những tác phẩm báo chí xuất sắc; có hình thức tôn vinh và động viên khen thưởng kịp thời, xứng đáng đối với những nhà báo trong sáng, kiên định, dũng cảm, sáng tạo, có những tác phẩm tốt cả về nội dung tư tưởng và hình thức thể hiện. Phát huy và nhân rộng ảnh hưởng và giá trị xã hội của Giải Báo chí quốc gia sau 7 năm thực hiện Quyết định của Thủ tướng, góp phần xây dựng nền báo chí cách mạng, khoa học, hiện đại và chuyên nghiệp.


---Kinh Vân Bộ---

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

Phản đối hành động của Lê Hiếu Đằng

Toàn Đảng,toàn quân,toàn dân ta đang sục sôi chào mừng ngày quốc khánh 2-9,một ngày lễ lớn của dân tộc .Nhưng đáng buồn thay,vào lúc này lại xuất hiện một số cá nhân “tiêu biểu” đi ngược lại điều ấy,huênh hoang đứng lên chống lại cả dân tộc,bề ngoài lúc nào cũng hô hào lòng yêu nước nồng nàn nhưng núp đằng sau đó là những toan tính nhỏ nhen,ích kỉ,tư tưởng phản động.Một trong những kẻ đó là Lê Hiếu Đằng ngang nhiên đòi đa nguyên,đa đảng thành lập đảng đối lập với Đảng cộng sản khi mà ông ta đã “gần đất xa trời”.


 Những ngày gần đây,dư luận trong và ngoài nước đang xôn xao bàn luận với bài viết “viết trong những ngày nằm bịnh” của một nhà luật gia đã già đôi lúc hơi bị “thần kinh” có tên là Lê Hiếu Đằng.Tại sao một bài viết ngắn lại có sức chú ý đến vậy?Quan tâm tìm hiểu một chút về chính trị,tôi mới vỡ lẽ ra à thì ra bài viết của ông ta rất xằng bậy,đi ngược lại ý chí của cả dân tộc Việt Nam.Một đất nước đang có nền kinh tế-chính trị hết sức ổn định,đời sống nhân dân đang được hưởng ấm no,hạnh phúc thì làm sao phải đa nguyên,đa đảng làm gì hay chỉ vì mục đích tư lợi cá nhân mà thôi.Quay lại một chút về ông Đằng,ông là một nhà luật gia đã có hơn 45 năm tuổi đảng và đã có thâm niên công tác nhiều năm ở Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì tại sao ông lại có những suy nghĩ non nớt,đầy sai lầm đến thế được.Phải chăng vì tuổi già sức yếu nên trí tuệ “ngài” không còn giữ được minh mẫn,nếu không chỉ có thể vì mục đích cá nhân mà thôi,có lẽ ông ta muốn được “nổi tiếng”truớc khi rời khỏi thế giới này hay chỉ vì tiền từ các thế lực thù địch.Đúng là nực cười!Tôi không thể tin nổi một người có trình độ,địa vị,được Đảng và nhà nước quan tâm bồi dưỡng như ông lại có thể làm một trò lố bịch như vậy.Thật đáng buồn,đáng thất vọng cho kẻ “ăn cháo đá bát” này.


 Lê Hiếu Đằng muốn “sáng lập” đảng mới là “Đảng dân chủ xã hội tiến bộ” với ảo tưởng là trở thành người đứng đầu cái đảng vô căn cứ này.Hắn ta trong bài viết của mình có luận điệu :“Dần dần các đảng đối lập sẽ trở thành một lực lượng làm nhiệm vụ như một kháng thể trong một cơ thể xã hội lành mạnh.Nếu xã hội không có lực lượng đối lập sẽ trở thành một con bệnh SIDA khó trị,chờ chết mà thôi”.   


                                           Lê Hiếu ĐằngLê Hiếu Đằng với Luận điệu sai trái (Ảnh:Internet)


Đây là một luận điệu vô cùng gàn dở,trắng trợn,vô lí của ông ta.Đất nước ta không thể chấp nhận đa nguyên,đa đảng mà phải đảm bảo được sự lãnh đạo duy nhất và tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam.


 Không có một căn cứ nào quan trọng bằng lịch sử.Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng,nước ta không cần đa đảng cũng có thể đi lên và phát triển chỉ cần có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.Ngày 3-2-1930,Đảng ta được thành lập tạo ra một bước ngoặc lớn trong lịch sử Việt Nam và từ đó đến nay Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.Mở đầu là vào tháng 8-1945,Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân ta đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền thành lập nên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa,tiếp đến là những thắng lợi vẻ vang ở hai cuộc kháng chiến chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.Ngày nay khi đất nước đã hòa bình,Đảng ta đang lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước ngày càng phát triển.Đó là căn cứ thuyết phục nhất để chứng tỏ rằng Đảng Cộng sản có đủ năng lực,được nhân dân tín nhiệm và lựa chọn để lãnh đạo đất nước mà không cần sự thành lập của bất kì đảng đối lập nào khác.Có thể nói Lê Hiếu Đằng đã đi ngược lại lịch sử,chống lại cả dân tộc nơi chính ông ta sinh ra.


 Đa đảng đối lập không phải là chế độ chính trị của thể chế xã hội chủ nghĩa,nó không thể mang lại sự phát triển bền vững cho đất nước bởi lẽ đa đảng đang mất dần ý nghĩa ban đầu mà trở thành công cụ để điều chỉnh lợi ích trên nguyên tắc cạnh tranh giữa các nhóm,tổ chức độc quyền.Bề ngoài hô hào dân chủ tiến bộ nhưng thực chất là để che đậy sự bất công,bất bình đẳng trong xã hội tư bản chủ nghĩa.Nhắc đến vấn đề dân chủ,nếu tìm hiểu một chút thật ra đa đảng đối lập không đảm bảo được dân chủ đích thực của nó.Dân chủ là tất cả mọi quyền lực thuộc về nhân dân,không phải cứ thực hiện thành lập nhiều đảng cạnh tranh nhau thì sẽ có dân chủ.Điển hình như ở Mỹ,nước này có rất nhiều đảng phái,luôn kêu gọi dân chủ tiến bộ trên thế giới nhưng thực chất chỉ có một đảng mà thôi là sự cầm quyền của đảng tư sản.Bản chất dân chủ ở Mỹ là dân chủ tư sản,không phải là dân chủ của đại đa số người dân nước này mà mục đích sâu xa là để đảm bảo lợi ích cho giai cấp tư sản.Không biết với trình độ của mình,ông Đằng có thể hiểu ra được điều đó không?


 Ông Lê Hiếu Đằng à!Ông hãy nhìn vào đất nước Ai Cập mà xem có cái mà ông mong muốn đấy,đó là đa nguyên đa đảng cái mà ông xem như là“kháng thể trong một cơ thể xã hội lành mạnh”.Nhưng hiện nay cái mà ông gọi là “kháng thể” đó đang làm cho xã hội nước này vô cùng rối ren và phức tạp,đời sống người dân nơi đây vô cùng khốn khổ,có phải đây là điều ông mong chờ chăng?Vậy thử hỏi xem nếu ở nước Việt Nam ta cũng đa đảng như thế thì liệu nước ta có trở thành Ai Cập thứ hai không?Chắc chắn khi đó nền chính trị sẽ mất ổn định,tất yếu xã hội sẽ rối loạn và dẫn đến kinh tế kiệt quệ,đời sống nhân dân sẽ hết sức khó khăn.Lúc ấy gia đình,con cháu của ông liệu có thể sống tốt?Vì vậy,chúng ta phải nhất quyết phản đối “Đảng dân chủ xã hội” đối lập này vì tương lai của đất nước Việt Nam thịnh vượng và phát triển.


 Xin ông Đằng kết thúc ngay cái trò vớ vẩn ấy đi,tuổi già nên yên phận!


 Nguyễn Anh


Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2013

Bản chất của gã hàng xóm “CƯỜNG HÀO”

Trung Quoc


Ông bà ta thường có câu “bán anh em xa, mua láng giềng gần” hay “hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”,.. những câu nói này đã đi theo lịch sử, thấm nhuần vào tâm hồn mỗi người dân Việt Nam trải qua hàng ngàn thế hệ từ thưở khai thiên lập quốc. Thể hiện tinh thần và đạo lý tốt đẹp của cha ông ta, hàng ngàn thế hệ người dân nước Nam nhỏ bé luôn thiết lập mối quan hệ bang giao hữu hão với năm châu và bạn bè quốc tế, luôn đặt vấn đề thêm bạn bớt thù lên hàng đầu. Thế nhưng xem ra trong mối quan hệ với gã hàng xóm to lớn ở bên cạnh chúng ta thì những câu nói trên xem ra không còn phù hợp. Thậm chí có thể xuyên tạc thành “hàng xóm tối lửa tắt đèn cắn nhau”. Viết câu này ra ngay bản thân Trần Ái Quốc tôi cũng cảm thấy xấu hổ với tiền nhân khi mình xuyên tạc những giá trị tốt đẹp của dân tộc, nhưng xem ra đối với gã đông gioăng thì ngẫm nghĩ lại càng quá đúng.


Để minh chứng cho bản chất của một gã hàng xóm xấu bụng, bài viết của Trần Ái Quốc xin được chia ra nhiều thời kỳ, trong đó tập trung phân tích từng giai đoạn lịch sử để chứng minh bản chất gã đông gioăng này “bẩn thỉu” từ thuở mới lọt lòng. Kính mong độc giả cho ý kiến nhận xét để Trần Ái Quốc tôi có cảm hứng hoàn thiện kế hoạch dài hơi của mình.


Kỳ 1:Từ vụ án Nam nhân kế và 1000 năm đô hộ của phong kiến phương Bắc”


Nhân dân Việt Nam xưa và nay vốn yêu chuộng hòa bình, ngay từ thời Hùng Vương vào khoảng năm 2.879 đến 209 TrCN các vua Hùng luôn lấy việc hòa hảo làm đầu. Tuy nhiên gã hàng xóm xấu bụng ngay từ thời khai thiên lập địa đã lộ ra bản chất của một “thằng ăn cướp”. Từ năm 209 đến năm 179 TrCN là thời kỳ tồn tại của nhà nước Âu Lạc do Thục phán An Dương Vương làm vua, khi đó phong kiến phương bắc do Triệu Đà làm chủ đã bao lần đem quân sang xâm chiếm Âu Lạc, tuy nhiên với sức mạnh và kỹ thuật chiến đấu của quân dân Âu Lạc đã làm cho quân Triệu Đà thúc thủ liên tục. Đến lúc này với mưu mô và xảo quyệt của một tên cáo già, Triệu Đà đã dựng nên một kịch bản cực hay là cho Trọng Thủy sang Âu Lạc “ở rể” để tìm hiểu và đánh cắp bí mật quân sự của An Dương Vương. Người xưa có câu “anh hùng không qua được ải mỹ nhân” thế nhưng trong trường hợp này thì ngược lại “mỹ nhân không qua được ải tiểu nhân”, lợi dụng sự lơi lỏng của triều đình Âu Lạc, sự chủ quan của An Dương Vương và sự cả tin của Mỵ Châu, Trọng Thủy đã giúp Triệu Đà thôn tính xong Âu Lạc mở ra một thời đại tăm tối cho dân tộc Việt Nam hơn 1000 năm Bắc Thuộc.


Điểm lại lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam mới thấy được dã tâm bẩn thỉu của thằng hàng xóm xấu bụng.


Sau khi chiếm được nước Âu Lạc, Triệu Đà sáp nhập đất Âu Lạc vào Nam Việt và chia Âu Lạc ra làm 2 quận là Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (bắc Trung Bộ), cử quan lại và quân lính sang cai trị và đóng đồn. Cách cai trị của họ Triệu tương đối lỏng lẻo. Triệu Đà chưa xoá bỏ vương hiệu của thủ lĩnh đất Tây Vu là đất bản bộ của họ Thục và vẫn cho các Lạc tướng được trị dân như cũ. Những luật lệ, phong tục tập quán cũ của Âu Lạc dưới thời Triệu tạm thời được duy trì. Cơ cấu xã hội Âu Lạc cũ hầu như chưa bị đụng chạm đến. Trong hơn 60 năm thống trị của nhà Triệu, trên đất Giao Chỉ, Cửu Chân không có những biến động quân sự, chính trị lớn.


Trong hơn một ngàn năm (179 TrCN - 938), nước ta liên tục bị các thế lực phong kiến phương Bắc nối tiếp nhau cai trị. Các triều đại đó là: Nam Việt của Triệu Đà: xâm lược và đô hộ nước ta 68 năm (từ 179 TrCN - 111TrCN); Nhà Tiền Hán: đô hộ nước ta 119 năm (từ năm 111 TrCN - năm 08); Nhà Tân: thay thế nhà Tiền Hán đô hộ nước ta 17 năm (từ năm 08 - năm 25); Nhà Hậu Hán: đô hộ nước ta 204 năm (từ năm 25 - 229); Nhà Đông Ngô: đô hộ nước ta 60 năm (từ 229 - 280); Nhà Tấn: đô hộ nước ta 140 năm (280 - 420); Nhà Lương: đô hộ nước ta 122 năm (420 - 542); Năm 542, cuộc khởi nghĩa Lý Bôn thắng lợi, nước ta giành độc lập trong 60 năm (542 - 602); Nhà Tuỳ: đô hộ nước ta 16 năm (602 - 618); Nhà Đường: đô hộ nước ta 287 năm (618 - 905). Năm 905, nhân tình hình rối loạn ở phương Bắc (Ngũ đại Thập quốc), Khúc Thừa Dụ đứng lên giành chính quyền một cách khôn khéo và đất nước tự chủ được 25 năm (905 - 930). Năm 930, nhà Nam Hán  2 lần xâm lược nước ta, 8 năm (930 - 938). Mãi đến năm 938 Ngô Quyền mới giành lại được độc lập cho đất nước sau chiến thắng Bạch Đằng vang dội.


Phong kiến phương Bắc thực hiện chính sách đồng hóa thâm độc như thực hiện chính sách ngu dân, từ những việc như lấy vợ gả chồng cho đến việc ăn mặc, thậm chí cả việc tổ chức khai thác nông nghiệp cũng đều phải theo truyền thống, tập quán và kỹ thuật Hán... Mức độ bóc lột và đồng hóa của chúng ngày càng trở nên khốc liệt. Ngoài việc bắt nhân dân ta phải cống nạp nhiều của quý, vật lạ của phương Nam, nhà Hán còn bóc lột tô thuế nặng nề, chiếm đất lập trang trại, nắm độc quyền sản xuất và mua bán muối. Nhà Hán ra sức củng cố và hoàn thiện chính quyền đô hộ ở Giao Chỉ, tìm mọi cách xoá bỏ lối “dùng tục cũ mà cai trị”, áp dụng pháp luật Hán, bắt nhân dân ta phải tuân theo lễ giáo phong kiến Hán. Chúng bắt hết thợ thủ công giỏi và đàn bà đẹp của người Việt đem sang chính quốc, còn lại chúng giết sạch đàn ông nước Nam, đem đàn ông Hán sang ở chung với phụ nữ Việt nhằm thực hiện chính sách đồng hóa triệt để và ra sức tiêu diệt giống nòi ta. Việc chúng mở ra một vài trường học cũng chỉ là để đào tạo một số thuộc viên đắc lực cho chính quyền đô hộ và tuyên truyền những tư tưởng đạo đức phong kiến Hán.


Sự thâm độc trong sự thống trị của Nhà Hán còn thể hiện trong âm mưu tiêu diệt các “long mạch” nhằm thống trị lâu dài nước Việt ta. Sự việc này sẽ được chuyển tải trong kỳ sau của bài viết với tựa đề “ Thánh vật sông Tô Lịch và tác phẩm của gã hàng xóm xấu bụng”…


                                                                       (còn nữa,…).


 Trần Ái Quốc

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

NỰC CƯỜI CHO “THƯ GỬI CÔNG AN NƯỚC CHXHCNVN” TRÊN DANLAMBAO

 Phillip Tran


Vừa qua khi vào blog Danlambao, tôi có đọc bài viết “Thư gửi Công an nước CHXHCNVN” của tác giả Trần Thiên Thạch. Đọc bài tôi đến phì cười với những nội dung mà tác giả gửi đến các chiến sĩ Công an nhân dân Việt Nam.


Đi vào bài viết, tôi thấy tác giả hướng các chiến sĩ CAND Việt Nam vào những hạn chế, khó khăn của nền kinh tế, bóp méo hình tượng, xoi mói qua các hành động của lãnh đạo nhà nước.


Dẫn chứng cho các luận điệu xảo trá, bịp bợm này là việc đưa ra các dẫn chứng thiếu chính xác như “Theo bản tin ngày 6 tháng 8 năm 2013 thì các ngân hàng thương mại Việt Nam “ế” 2.5 tỉ đô la và phải gởi số tiền đó ra các ngân hàng nước ngoài để cho vay. Điều đó cho thấy các doanh nhân Việt Nam thu hẹp sản xuất, không có nhu cầu vay vốn, số hàng tồn kho của các doanh nghiệp lên cao, doanh nghiệp không vay vốn để sản xuất và sản phẩm chất vào kho vì không tiêu thụ được. Kinh tế tiếp tục suy thoái, những ngân hàng thương mại không có người vay, đành chuyển tiên ra nước ngoài để cứu vãn tình thế”.


 hét to


Nhấn mạnh các hiện tượng thoái vốn của các doanh nghiệp, sự sụp đổ của một số doanh nghiệp trong nước. Từ đó, tác giả lập luận một cách thiếu thuyết phục là “Không còn hoài nghi gì nữa, kinh tế đang trên đà suy sụp, và có thể dẩn đến sụp đổ toàn diện”. Rồi thì “Sụp đổ kinh tế kéo theo sự sụp đổ chánh trị. Đó là điều không tránh khỏi”.


Tác giả này lập luận nào là “Những đảng viên lãnh đạo cao cấp, những người giàu có đã chuẩn bị sẵn, và khi giờ sụp đổ của chế độ đến, họ lên máy bay, tàu thủy ra nước ngoài an hưởng đống tài sản kết xù họ vơ vét được. Họ và gia đình họ sống vương giả nhiều đời trên đống tiền của mà các bạn ra sức bảo vệ họ để họ vơ vét”. Mà thực tế đất nước Việt Nam XHCN đang phát triển mạnh mẽ làm gì có viễn cảnh như tác giả này mong tưởng chứ.


 Tác giả này còn chỉ ra những hậu quả mà người chiến sĩ CAND phải gánh chịu là “Sự thù hận từ con cháu của những nạn nhận trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, vụ án Xét Lại, những oan khiên ngất trời trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất mà hàng vạn nông dân vô tôi phải thiệt mạng, con cháu của những người dân bị giết oan uổng trong dịp tết Mậu Thân ở Huế…” nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ CAND “khiếp sợ”. Sau hàng loạt lập luận có vẻ “đanh thép” tôi cứ nghĩ sẽ là một lời hiệu triệu “hùng hồn”. Nào ngờ, tác giả này lại cầu xin cán bộ, hiến sĩ CAND rủ lòng thương cho bọn rận dân chủ.


Đúng là bọn rận đang rất hoang mang, hành động của chúng đã xâm hại trực tiếp đến lợi ích đất nước, của nhân dân nên tất yếu sẽ bị nhân dân ta đấu tranh loại bỏ. Công an nhân dân là từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, sống, chiến đấu vì hạnh phúc của nhân dân. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng CAND luôn có lập trường tư tưởng vững vàng, kiên trung nguyện một lòng hiến dâng, những người chỉ biết còn Đảng là còn mình.


          Bọn rận dân chủ, chúng mày hết đất sống rồi!.


Thư gửi rận dân chủ!./.

THƯ GỬI NGUYỄN TRỌNG VĨNH

Trần Ái Quốc 




[caption id="attachment_1328" align="aligncenter" width="500"]Nguyễn Trọng Vĩnh. Ảnh: Internet Nguyễn Trọng Vĩnh. Ảnh: Internet[/caption]

    Khi đọc bài viết của Nguyễn Trọng Vĩnh trên blog Bùi Văn Bồng, bài viết mang tên : “Thấy gì khi đọc kỹ Bản dự thảo Hiến Pháp sửa đổi. Những tưởng bài viết đóng góp được gì cho đất nước Việt Nam, đóng góp vào sức dân trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội, hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn, thì bài viết chỉ nhằm mục đích bôi nhọ, xuyên tạc những vấn đề liên quan đến quyền con người trong bản dự thảo Hiến Pháp sửa đổi.

     Trong bài viết của Nguyễn Trọng Vĩnh có ghi: “ Điều 2 Chương I ghi “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”. Nhưng nhân dân không được làm và phúc quyết Hiến pháp là văn bản luật cơ bản và cao nhất liên quan đến quyền lợi của dân và chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của chính quyền. Điều 74, 75 chương V ghi “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến… làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp…” là phủ định quyền được làm và phúc quyết của dân”

      Kính thưa ông Vĩnh, khi viết những vấn đề này ông phải tìm hiểu kỹ hơn về pháp luật Việt Nam, ông quên mất rằng nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, điều đó được thể hiện cụ thể thông quan quyền phổ thông đầu phiếu trong mỗi nhiệm kỳ bầu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Tại Điều 6 Hiến Pháp 1992 ghi rõ: “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Tiếp đó, Tại Điều 7 quy định: “việc bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Từ những lá phiếu của người dân được bầu một cách dân chủ, công khai mà các cơ quan Đảng, cơ quan quyền lực Nhà nước được hình thành. Đó là những đại biểu trung thành nhất, đại diện cho quyền lợi của nhân dân, quyền lực nhân dân được đại diện bởi Quốc Hội, và khi thực hiện quyền lập hiến thì Quốc hội thực thi quyền lực đại diện cho nguyện vọng và ý chí của nhân dân. Như vậy làm gì có chuyện phủ định quyền được làm và phúc quyết của nhân dân. Ông nói vậy là chưa chính xác ông Vĩnh nhé.

      Tiếp, ông nói Đảng Cộng sản Việt Nam làm trái tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện khi trích dẫn Điều 21 và Điều 70 của Hiến Pháp năm 1946. Ông nên nhớ, theo quan điểm Mác Lênin khi nhận xét bất cứ một vấn đề gì phải dựa trên hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Bối cảnh đất nước Việt Nam ngày càng dân chủ, tiến tới công bằng xã hội, do vậy Hiến Pháp cũng cần thay đổi thường xuyên cho phù hợp với thực tiễn cách mạng. Ông lấy bối cảnh năm 1946 để so sánh với năm 2013 là một sự so sánh khập khiễng, vô nguyên tắc và phi khoa học. Bên cạnh đó, Hiến Pháp năm 1992 và Bản dự thảo Hiến Pháp sửa đổi đã thể hiện rõ quyền công dân được quy định tại Chương V của bản Hiến Pháp 1992 sửa đổi năm 2011. Việc thể hiện quyền lực của nhân dân thông qua Quốc hội và các đại biểu Quốc hội không phải là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lên nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam. Điều 97 bản Hiến Pháp 1992 quy định: “Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước…” Như vậy, khi đại biểu Quốc hội họp quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước thì cũng chính là nhân dân đang quyết định, vì họ quyết định dựa trên ý chí, nguyện vọng của nhân dân.


    Đồng ý là người dân Việt Nam cần đóng góp ý kiến của mình cho bản dự thảo Hiến Pháp nhằm góp phần xây dựng đất nước này giàu đẹp hơn. Nhưng xem ra vẫn có những kẻ suốt ngày chỉ biết xuyên tạc, bôi nhọ danh dự của mảnh đất đã dứt ruột đẻ ra chúng nó, ngẫm nghĩ thật đáng cười chê./.

Thứ Năm, 22 tháng 8, 2013

Sự thật về Điều 258 và nhân quyền ở Việt Nam



Ngày 25-2 tại Gionever (Thụy Sỹ), Bộ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh đã dẫn đầu đoàn Việt Nam tham dự khóa họp 22 của hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc. Tại phiên họp, Bộ trưởng đã có phát biểu được cho là phù hợp với trách nhiệm của Việt Nam đối với tình hình nhân quyền của Việt Nam và trên thế giới, đó là việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp Quốc nhiệm kỳ 2014-2016. Mặc dù trước mắt còn rất nhiều khó khăn, thách thức nhưng những gì mà Việt Nam đã và đang chứng minh cho nhân dân thế giới thấy rằng tình hình nhân quyền ở Việt Nam đã và đang phát triển toàn diện về mọi mặt thì chúng ta có quyền tin tưởng vào kết quả thuận lợi cho Việt Nam trong cuộc bầu cử thời gian tới.

Nhưng bao giờ cũng thế, đã trở thành thói quen không thế từ bỏ đó là khi Việt Nam chúng ta có những bước đi mới, phát triển và hoàn thiện hơn về các chủ trương, chính sách liên quan đến tình trạng nhân quyền thì bọn cơ hội chính trị lại được phen làm “anh hung bàn phím”. Đó là việc các blogger “chân chính” tung hoành trên mạng internet về việc phản đối việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, đó là các thông cáo, các tuyên bố 258 tuyên truyền, vu khống về việc vi phạm nhân quyền của Việt Nam trong thời gian qua. Đặc biệt là việc các blogger Việt Nam tiến hành tuyên truyền, phá hoại và tiến hành nhiều hoạt động nhằm xóa bỏ điều 258 của Bộ luật hình sự Việt Nam, yêu cầu Việt Nam thay đổi luật pháp để chúng có cơ hội và điều kiện tiến hành các hoạt động xâm trật tự an toàn xã hội, và an ninh quốc gia của Việt Nam. Việc chúng ra các tuyên bố 258 hay các thông cáo liên quan đến việc xóa bỏ Điều 258 của Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hoàn toàn chỉ nhằm phục vụ mục đích phá hoại của chúng mà thôi.

CaptureĐiều 258 đang bị các blogger "chân chính" đòi xóa bỏ


Còn đây là sự thật về điều 258:


Trong Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 và sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:

Điều 258. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân

1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ dến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

2. Phạm tội trong các trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai đến bảy năm .

Như vậy nếu Nhà nước ta tiến hành xóa bỏ Điều 258 theo lời của các blogger thì việc các blogger tiến hành quyền tự do ngôn luận của mình bằng việc viết trên các blog của mình về việc tuyên truyền sai sự thật về các thông tin của cá nhân, tổ chức rồi làm ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như sự phát triển của họ trong công việc, uy tín, danh sự nhâm phẩm của họ thì sẽ không bị xử lý thì một xã hội “loạn” theo đúng nghĩa của nó sẽ xuất hiện và đi xa hơn nữa là khi các cá blogger tiến hành phá hoại, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước mà không bị một chế tài nào xử lý thì việc đất nước đó sớm tiêu vong là điều không tránh khỏi. Và Việt Nam nhất định không để điều đó xảy ra nên việc ban hành luật pháp để quản lý đất nước là điều hoàn toàn hợp lý. Sự thật là Điều 258 của Bộ luật hình sự không hề xâm vi phạm nhân quyền và đi ngược lại với các cam kết, hiệp ước mà nước ta đã ký liên quan đến lĩnh vực nhân quyền. Các blogger nói rằng Điều 258 đã đi ngược lại Điều 29 và 19 của Công ước quốc tế nói trên nhưng sự thật thì Điều 258 đã quán triệt tinh thần của hai điều trên và đã hạn chế được những hành động nhất định lợi dụng các quyền cá nhân không theo pháp luật.

Quay trở lại với việc nước ta tham gia ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016, có thể thấy rằng đây là cơ hội lớn cho Việt Nam. Nói về nhân quyền thì Việt Nam hoàn toàn có thể tự hào mà khẳng định rằng các quyền tự do dân sự, quyền tự do chính trị và các quyền liên quan khác đến nhân quyền như quyền tự do tư tưởng, tự do phát ngôn,… đều được đảm bảo và Việt Nam luôn ưu tiên thực hiện các quyền này một cách hiệu quả nhất. Tại Hiến pháp năm 1992 thì nhân quyền cũng được khẳng định cơ sở pháp lý của mình tại Điều 69, cho phép các công dân được tự do bày tỏ quan điểm của mình trên các lĩnh vực văn hóa, chính trị, xã hội … một cách rộng rãi nhưng mà phải dựa trên quy định chứ không được xâm phạm quyền và lợi ích của Nhà nước cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp khác của các tổ chức, công dân. Các quyền về dân sự và chính trị được thể hiện ở việc tất cả mọi người đều được sống trong môi trường độc lập, tự do, vận mệnh của mình không phụ thuộc vào người khác mà do chính bản thân cá nhân mình tự quyết định, không chịu ảnh hưởng của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào chi phối quyền dân sự và chính trị của mình. Nhà nước ta luôn đặt quyền con người lên hàng đầu và đảm bảo cho nó được thực hiện nhưng không được phép để người dân lợi dụng các quyền con người để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Nước ta dành nhiều sự quan tâm cho các quyền văn hóa, xã hội như việc thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo cũng như phát triển văn hóa cho các vùng dân tộc thiểu số, vùng miền núi. Tích cực thực hiện các chương trình y tế, quan tâm chăm sóc sức khỏe cho vùng sâu vùng xa và đã đạt được nhiều thành tích tích cực như tỷ lệ trẻ em tử vong, trẻ em suy dinh dưỡng, mù chữ đều giảm mạnh…

Mặc dù tình trạng nhân quyền ở Việt Nam còn một số hạn chế nhất định song đó chỉ là một phần rất nhỏ mà Việt Nam sẽ khắc phục trong thời gian tới như điều kiện giáo dục, tạo việc làm cho người khuyết tật còn hạn chế, đời sống của người dân vẫn còn nhiều đối tượng thuộc diện nghèo nhưng đó chỉ là một phần không đáng kể và Việt Nam đã và đang có nhiều chính sách thích hợp để tiến tới khắc phục những hạn chế trên. Với những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua về nhân quyền và việc ý thức trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ nhân quyền trên thế giới thì Việt Nam hoàn toàn có thể đảm nhận tốt vai trò là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và sẽ có nhiều đóng góp tích cực trong việc thực hiện chức năng của tổ chức này, vì một thế giới hòa bình, phát triển toàn diện và con người luôn được đảm bảo công bằng, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Hunter

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

Bàn về vấn đề nhân quyền

nhân quyền


Bộ ngoại giao Hoa Kỳ thường niên công bố trên website bản báo cáo phê bình tình hình nhân quyền trên thế giới. Báo cáo của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ chứa đựng thông tin của khoảng 190 quốc gia nhưng điều đáng lưu ý là lại không có Hoa Kỳ. Liệu rằng những lời nhận xét đó có công bằng và xác thực hay không? Trong số 190 quốc gia được đề cập đến bản báo cáo về nhân quyền đó, có Việt Nam. Năm 2012, những vấn đề quyền con người nổi bật nhất mà Mỹ đề cập đến là: sự hạn chế nghiêm ngặt của chính quyền đối với quyền chính trị của công dân, đặc biệt là quyền công dân trong việc thay đổi chính quyền của mình; tăng cường các biện pháp hạn chế quyền tự do dân sự của công dân, và sự tham nhũng trong hệ thống tòa án và cảnh sát. Rõ ràng những nhận xét của Hoa Kỳ về tình hình nhân quyền của Việt Nam cũng không kém phần thiên lệch, kỳ thị và chứa yếu tố chính trị bởi chứng minh cho lập luận đưa ra trong bản báo cáo, Mỹ lấy chứng không thuyết phục và không xác thực.


Chúng ta càng không nên tin vào những nội dung trong bản báo cáo đó của Mỹ khi mà tình hình nhân quyền của Mỹ cũng có những vấn đề mà Mỹ vẫn chưa giải quyết được. Ví dụ như trong bản báo cáo của Văn phòng hội đồng Nhà nước Trung Quốc công bố về tình hình vi phạm nhân quyền của Hoa Kỳ. Trong đó, có phần nói về tội phạm được gọi là “nạn nhân hóa”, việc kiểm soát súng, quyền con người, quyền chính trị, sự tàn bạo của cảnh sát và tỷ lệ tù nhân của Hoa Kỳ. Bên cạnh đó, bản báo cáo đã phê phán tình trạng thất nghiệp cao của Mỹ, bất bình đẳng về thu nhập và chăm sóc y tế, giáo dục thiếu ngân sách, bất bình đẳng giới tính và đương nhiên, nạn kỳ thị chủng tộc và đặc biệt là liệt kê những vi phạm nhân quyền mà Mỹ gây ra ở những quốc gia khác.


Gần đây, Quốc hội Châu Âu đã đưa ra bản nghị quyết về nhân quyền cho Việt Nam. Bản nghị quyết đã đã đưa ra những thông tin và nhận định hoàn toàn sai lệch về tình hình thực tế ở Việt Nam. Hơn thế nữa, bản nghị quyết là kết quả của những nhận xét mà các quốc gia Châu Âu đưa ra khi mà ngay trong việc đưa ra bản nghị quyết cuối cùng cũng vẫn còn những ý kiến trái chiều, không phải là đồng thuận 100% (Bản Nghị quyết được thông qua với đa số các chính đảng đại diện 754 dân biếu, và Nhóm Cực Tả bỏ phiếu trắng).


Ngay cả Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc ra đời vào năm 1948, sau 65 năm cho đến nay tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc vẫn tồn tại nhiều tranh luận, những chuẩn mực thế giới trên thực tế khó có tồn tại trong một thế giới có quá nhiều sự khác biệt về văn hóa và địa lý. Vậy nên, những kết luận trong những bản báo cáo hay nghị quyết về nhân quyền của bất cứ một quốc gia nào cũng không hẳn là quá lo ngại. Điều quan trọng là, thực tế, vấn đề dân chủ nhân quyền ở Việt Nam được thực hiện như thế nào? Có thể nói rằng người dân Việt Nam luôn nhận được sự bảo hộ của Nhà nước, được quan tâm và tạo điều kiện phát triển trong mọi mặt của đời sống xã hội trên cơ sở tôn trọng quyền tự do của mỗi người, tạo sự công bằng, ổn định và bền vững cho toàn xã hội. Hầu hết những cuộc biểu tình hay các cuộc chống đối về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam đều là những hiện tượng cực đoan và đôi khi bị các thế lực thù địch bên ngoài lôi kéo, mua chuộc mà thôi. Chúng ta tuyệt đối phản đối những hiện tượng đó, và luôn tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam thì vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được hoàn thiện và chắc chắn: “Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng như nhau về nhân phẩm và các quyền” như trong Điều 1 của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc.


Ms.Nanu

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

Vấn đề nhân quyền ở Mĩ - Phần 2

[caption id="attachment_1305" align="aligncenter" width="283"]Ở Mỹ -Nhân quyền là thế này ( Nguồn Internet) Ở Mỹ -Nhân quyền là thế này ( Nguồn Internet)[/caption]

Trong năm 2006, Ủy ban nhân quyền của Liên Hiệp quốc đã có bản phúc trình đề cập tới tình hình nhân quyền ở trong nước Mỹ và khuyến cáo Chính phủ Mỹ bảo đảm quyền lợi của người nghèo và người da đen trong hoạt động cứu trợ thiên tai (như cơn bão Katrina). Theo bản phúc trình thì Mỹ cần "tăng nỗ lực để bảo đảm quyền của người nghèo, đặc biệt người Mỹ gốc Phi, trong các kế hoạch tái thiết về các phương diện như nhà ở, giáo dục và y tế".

Vậy, đây có phải là giá trị nhân quyền mà Mỹ đang rêu rao trên khắp mọi nơi trên thế giới, Mỹ cứ tự hào là nước dân chủ văn minh, vậy bắt, tra tấn những người mà Mỹ nghi là khủng bố (rất nhiều người trong số họ sau này là vô can) ở Goantanamo, xâm phạm nghiêm trọng nhân quyền thì Mỹ nói sao về hành vi này?

Một điều nữa dễ nhận thấy là sự chênh lệch giàu nghèo ở Mỹ quá lớn và có xu hướng ngày càng gia tăng. Những người giàu chiếm thiểu số có xu hướng ngày càng giàu hơn và được hưởng nhiều đặc quyền, trong khi ở tầng lớp người nghèo khó chiếm đa số trong xã hội Mỹ thì ngược lại họ đang dần rơi vào tình cảnh khốn cùng và chịu nhiều thiệt thòi trong quan hệ xã hội. Hơn nữa, sự tôn trọng các quyền tự do ngôn luận, bất khả xâm phạm về thân thể… ở Mỹ cũng còn nhiều vấn đề đáng quan tâm. Ông Andranik Migranyan – Giám đốc Viện Dân chủ và hợp tác ở New York, từng nói: “Tất nhiên, Hoa Kỳ là một quốc gia với nhiều truyền thống dân chủ. Nhưng, nếu nhìn kỹ cách tổ chức đời sống xã hội, thì rất tiếc sẽ thấy rõ nhiều vấn đề không cho phép Hoa Kỳ coi mình như thầy giáo giới thiệu mô hình lý tưởng về việc bảo vệ quyền con người”.

Thí nghiệm vô nhân đạo trên người tại Mỹ. Đã có rất nhiều vụ thí nghiệm được thực hiện trên người tại Mỹ mà được cho là vô nhân đạo, được tiến hành bất hợp pháp và không có sự đồng thuận và quyền được thông báo trước của người bệnh. Nhiều loại thí nghiệm được thực hiện bằng cách cho bệnh nhân nhiễm các loại bệnh chết người một cách cố ý, hoặc cho họ tiếp xúc với các loại vũ khí hóa học , sinh học, phóng xạ, bức xạ, thí nghiệm giải phẫu, thí nghiệm các dụng cụ tra tấn/thẩm vấn, thí nghiệm các loại thuốc thay đổi trí nhớ, và nhiều hình thức thí nghiệm khác. Nhiều trong số các vụ thí nghiệm này được tiến hành cho trẻ em, người thiểu năng trí tuệ, người nghèo, người thuộc các nhóm cộng đồng thiểu số, và nhất là tù nhân.

Hàng loạt các vụ nổ bom, các vụ tấn công, các vụ xả súng gây ra cái chết kinh hoàng của nhiều người dân vô tội.  Điều này xuất phát bởi quốc gia này có một nền “văn hóa súng đạn” theo đúng nghĩa đen của từ này, tức nhà nhà dùng súng, người người dùng súng, đa số người dân Mỹ vì lý do an ninh không ủng hộ việc cấm sử dụng súng. Luật quy định về dùng súng ở Mỹ rất lỏng lẻo khiến mọi người dễ dàng lách luật. Thêm nữa, việc sử dụng súng đạn đem lại lợi nhuận cho Mỹ khi đây là quốc gia cung cấp nguồn vũ khí nhỏ hàng đầu thế giới.

Như vậy, bản thân nước Mỹ cũng còn quá nhiều vấn đề về nhân quyền cần được giải quyết, thế nhưng nước này vẫn tự coi mình là kiểu mẫu về một quốc gia nhân quyền cho nên họ không có quyền và không đủ tư cách đi phán xét tình hình nhân quyền của nước khác. Thế mà hàng năm, Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn đưa ra bản đánh giá nhân quyền, không tiếc lời chỉ trích, lên án các nước trong đó có Việt Nam về vấn đề nhân quyền. Gần đây nhất là vào ngày 15/5/2013 Tiểu ban Nhân quyền của Hạ viện Mỹ vừa thông qua Dự luật Nhân quyền cho Việt Nam năm 2013. Theo Dân biểu Chris Smith: “Dự luật này ngăn cấm viện trợ không vì mục đích nhân đạo cho Việt Nam trừ phi Hà Nội có những tiến bộ nghiêm túc và đáng kể trong lĩnh vực nhân quyền, bao gồm tôn trọng tự do tôn giáo, thả tù nhân chính trị, tôn trọng quyền tự do ngôn luận, lập hội, hay tụ tập của công dân, bỏ các điều luật hình sự hóa các tiếng nói bất đồng chính kiến, các hoạt động truyền thông độc lập, hay các cuộc tuần hành ôn hòa, tuân thủ đúng các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền, tôn trọng nhân quyền của các nhóm thiểu số, có các biện pháp thích đáng kể cả truy tố các quan chức nhà nước để chấm dứt tình trạng buôn người có sự đồng lõa của giới hữu trách”.

Dự luật này có thực sự vì mục tiêu giúp Việt Nam phát triển, tiến bộ và đảm bảo nhân quyền ở Việt Nam không, điều đó còn cần phải bàn. Chỉ có điều trước đó vào ngày 9/2/2013 ông Chris Smith cùng một vị nghị sỹ Quốc hội Mỹ là bà Zoe Lofgren vừa có hành động viết thư gửi tới Ủy ban giải Nobel Hòa Bình 2013, vận động đề cử hai cá nhân Việt Nam là Thích Quảng Độ và can phạm Nguyễn Văn Lý đang thụ án tù – hai cá nhân có hành vi đội lốt tôn giáo chống đối nhà nước Việt Nam đã từng bị xử lý, kết án tù - làm ứng viên giải Nobel Hòa Bình 2013. Chỉ vậy đã đủ thấy thực chất hai vị nghị sĩ Quốc hội này đã ngang nhiên, công khai bao che, dung túng, hậu thuẫn cho các phần tử chống đối Nhà nước Việt Nam, trắng trợn can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam theo quan niệm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”. Mỹ muốn thông qua “nhân quyền” để rũ tung, phá nát an ninh chính trị của các nước có chủ quyền; để áp đặt “nhân quyền kiểu Mỹ” lên nước khác, tiến tới “Mỹ hóa toàn cầu”. Thực chất đây là “con chủ bài”; một mũi tiến công rất nguy hiểm của Mỹ trên mặt trận chính trị, tư tưởng, văn hóa…; là công cụ để thực hiện chủ nghĩa bá quyền; là “vũ khí hòa bình” kết hợp với răn đe bằng quân sự để tiến tới thôn tính, “xâm lược” các quốc gia có chủ quyền./.

 Xuân An

Thánh vật sông To Lịch – Tác phẩm của gã hàng xóm xấu bụng

songtolich2


1. Tóm lược sự việc thánh vật sông Tô Lịch


Tóm lược sự việc như sau, vào ngày 27/9/2001, đội thi công số 12 -Thuộc Công ty xây dựng VIC ,trong khi nạo vét sông Tô Lịch,thuộc địa phận làng An Phú - Phường Nghĩa Đô - Quận Cầu giấy - HÀ NỘI đã phát hiện được di vật cổ rất lạ và huyền bí. Đó là 7 cây gỗ được chôn đứng dưới lòng sông, tạo thành một đa giác đều, tại đó có các bộ hài cốt bị đóng đinh bả vai, táng giữa các cọc gỗ đó. Ngoài ra còn phát hiện được tấm gỗ Vàng tâm có hình Bát quái, một số đồ Gốm, xương Voi, Ngựa, dao, tiền đồng. Sau khi đã rút những cọc gỗ đó lên, lấy các bộ hài cốt đem lên Bát Bạt -Hà tây ( là nơi nghĩa trang chôn cất chung của TP.Hà nội ), thấy có rất nhiều hiện tượng kỳ lạ xẩy ra. Nào là các việc chuẩn bị tiến hành thi công bị rối tung lên, máy xúc KOMATSU tự nhiên lao xuống sông;. Nào là một số người đang làm việc tự nhiên ngã lăn ra đất, chân tay co rúm, cứng đờ, lưỡi thè ra ngoài và trở nên hoàn toàn mất tư thức trong nhiều giờ; Địa tầng của cả khu vực thi công tự nhiên biến đổi, không giống như khảo sát ban đầu; Thử đưa la bàn vào khu vực đó thấy kim la bàn quay tít. Một năm sau sự việc trên, có hàng loạt sự kiện ngẫu nhiên xẩy ra, gây kinh hoàng cho toàn đội xây dựng số 12, là đội đã trực tiếp thi công khu vực trên. Bản thân, gia đình, anh em của những người công nhân trực tiếp ngụp lặn vớt hài cốt, nhổ cọc đóng dưới lòng sông liên tục bị các tai nạn thảm khốc như chết, bệnh tật, tai nạn. Sự việc lên đến đỉnh cao khi có tới 43 người thợ bỏ không dám tiếp tục làm việc tại công trường nữa. Trong số đó nhiều người không nói rõ lý do, cũng không đòi hỏi vật chất mà đáng ra họ được hưởng.


Ngày 9/10/2001 những người thợ đã mời một thày theo đạo Tứ phủ đến giải thích, theo nhận định của Thày thì đây là một đạo Bùa Bát quái trận đồ được chôn yểm lâu đời để trấn yểm Long mạch của khu vực này. Sau đó các công nhân lại tiếp tục mời Thượng tọa Thích Viên Thành tới. Thượng tọa Thích Viên Thành đã cho 5 đệ tử lập đàn tràng, làm lễ Hàn lại Long mạch. Chỉ hơn 1 tháng sau, Thượng tọa Thích Viên Thành đã bị bệnh chết. Các nhà khoa học đã có những đánh giá sơ bộ, song cho đến nay vẫn chưa có kết luận nào khả dĩ có thể lý giải và khắc phục các sự việc trên.


2. Tác phẩm của Cao Biền


Theo Việt sử lược : Thành Đại La được xây dựng vào thế kỷ 7 có tên là Tống Bình. Năm thứ 2 niên hiệu Trường khánh (Nhâm Dần -822 ), Vua Mục Tông nhà Đường dùng Nguyên Hỷ làm quan đô hộ. Nguyên Hỷ thấy cửa thành có dòng nước ngược sợ rằng dân ở thành có ý đồ phản nghịch, liền sai Thầy bói gieo 1 quẻ. Thầy bói nói rằng, sức ông không đủ để bồi đắp thành lớn, 50 năm sau, có một người họ Cao đóng đô tại đây mà xây dựng Vương phủ. .
Tới đời vua Đường Y Tôn (841 -873 ), Cao Biền được cử sang đất Việt làm Tiết Độ sứ. Cao Biền là một con người đa hiệu: Vừa là một vị Tướng, vừa là một nhà Phù thủy, một Đạo sĩ, cũng là một nhà Phong thủy có tài. La Thành được Cao Biền sửa chữa, chỉnh đốn lại cho hợp Phong Thủy vào các năm : 866, 867, 868. Theo truyền thuyết, khi Cao Biền xây dựng lại thành Đại La, thì khu vực thi công có hiện tượng sụp lở đất. Cao Biền liền tiến hành chấn yểm Thần sông Tô lịch và một số điểm khác như đền thờ Thần Bạch mã, núi Tản Viên. Sau đó công viêc xây dựng mới có thể hoàn tất.


Vùng đất từ đầu nguồn sông Tô Lịch kéo dài đến Cổ Loa - Đông Anh HÀ NỘI là một vùng đất có địa tầng địa chất không ổn định. Ta cũng cần phải nhớ rằng : Núi Tản viên nằm ở hướng Tây Hà Nội. Mặt khác phía Tây và Tây Bắc của La Thành là một vùng núi non trùng điệp của các tỉnh HÒA BÌNH, SƠN LA, LAI CHÂU...Theo định nghĩa của môn Phong Thủy, Long Mạch xuất phát từ những rặng núi cao. Núi mà từ đó khởi nguồn Long mạch gọi là Tổ sơn. Ngoài ra Long mạch còn xuất phát từ những khu vực khác gọi là Thiếu sơn. Ta cũng biết rằng thiên khí từ trên trời luôn có tính chất giáng xuống, các đỉnh núi cao là những antena tiếp thu sinh khí. Từ những sự việc trên, ta cảm nhận được rằng có một Long mạch rất lớn bắt nguồn từ núi Tản Viên và các rặng núi phía Tây, Tây bắc của Thành Đại la kéo dài qua thành Đại La theo dọc sông Tô Lịch (khí thường đi theo nước ), chạy qua khu vực Hồ Tây bây giờ (Hồ Tây trước kia là một khúc của dòng sông Hồng ), sau đó sang tới tận địa phận Cổ Loa -Đông Anh - HÀ NỘI và còn theo hướng Đông, Đông Bắc đi tiếp .


Chính vì có Long mạch này mà Cao Biền phải vô cùng bận tâm, khổ trí nhằm tiêu diệt hoặc chấn yểm. Có rất nhiều tryền thuyết về Cao Biền liên quan đến các khu vực khác nhau của Long mạch này, và đây cũng chính là tác phẩm Cao Biền để lại trên sông Tô Lịch mà năm 2001 chúng ta phát hiện ra gây xôn xao dư luận.


Trước khi sang nước Nam, vua Đường cho vời Cao Biền vào và nhủ rằng : “Công học địa lý, tối vi linh diệu, trẫm văn An nam đa hữu thiên tử quý địa, Công đương dụng lực ngụ mục, hoặc hữu áp chi, triển bình sinh chi kinh luân, thuật thánh hiền chi quy củ, đoạt thần công nhi cải thiên mệnh, nhiên vi tiễu thảo trừ căn, chi đồ thứ cơ vô hậu lệ, tường suy phong thủy, kiến lãm sơn xuyên, nhất nhất diễn ca lập kiểu, trẫm đắc tiện văn giả..


Dịch ra có nghĩa là:


“…Khanh học địa lý tối vi linh diệu, trẫm nghe An Nam có nhiều quý địa kết phát tới thiên tử, sản xuất ra nhiều nhân tài, anh kiệt nên luôn luôn nổi nên chống đối. Qua bên đó, khanh nên tường suy phong thủy, kiến lãm sơn xuyên và làm tờ tấu biểu kèm theo lời diễn giải các kiểu đất, gửi về cho Trẫm xem trước. Rồi ở bên đó khanh đem tài kinh luân, đoạt thần công, cải thiên mệnh, trấn áp các kiểu đất đó đi. Đó là cách nhổ cỏ thì nhổ tận gốc vậy, để tránh hậu họa sau này…”


Cao Biền vâng lệnh sang Việt nam, ông đã bỏ công xem xét. Và nhận thấy rằng có một mạch đất cực lớn thuộc loại Đại cán long xuất phát từ Côn Lôn sơn chạy qua, đến Việt nam chia làm ba chi lớn, trong đó có tới 27 ngôi đất kết phát tới thiên tử, còn lại là hàng nghìn ngôi đất lớn nhỏ kết phát các anh tài kiệt xuất. Ông đã xem xét. Ghi chép, diễn ca được 632 huyệt chính, 1517 huyệt bàng thuộc các tỉnh trên lãnh thổ Bắc Việt Nam:


Hà Đông: 81 chính, 246 bàng


Sơn Tây : 36 chính, 85 bàng


Vĩnh yên, Phúc yên, Phú thọ : 65 chính, 155 bàng


Hải Dương, Hưng Yên, Kiến An : 183 chính, 483 bàng


Gia Lâm, Bắc ninh, Đáp cầu, Bắc giang, Lạng sơn : 134 chính, 223 bàng


Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình : 133 chính, 325 bàng


(chi tiết các địa danh huyệt kết và diễn ca này xin để dịp khác vì dài dòng quá, tôi không đưa vào đây)


Sau khi thống kê, diễn giải tường tận, Cao Biền làm sớ tấu gửi về cho vua Đường Trung Tông. Bản tấu này có tên là “Cao Biền Tấu thư địa lý kiểu tự”. Bản tấu thư này được nhà Đường cất giữ rất bí mật, coi là bí thư.


Ở Việt nam, Cao Biền tiến hành trấn yểm các kiểu đất lớn. Thủ pháp của Cao Biền để trấn yểm là : Bắt đồng Nam, đồng Nữ, mổ bụng moi hết nội tạng, sau đó nhét cỏ bấc vào trong, cho ngồi giả phụ đồng. Sau đó đăng đàn làm phép, khu thần tróc quỷ, gọi các thần linh cai quản các ngôi đất lớn đến nhập đồng. Nếu thấy các tử thi cử động thì liền dùng gươm phép tẩm máu gà, máu chó mà trừ khử cho mất thiêng đi.


(Theo thuật Địa lý, một ngôi đất kết là do khí mạch của đất thăng lên, và các ngôi đất đó do các thần linh cai quản nuôi dưỡng, đất càng lớn thì thần linh càng mạnh. Cho nên khi trấn yểm, nếu muốn phá được ngôi đất ấy thì trước hết phải trừ được thần linh cai quản, sau đó mới yểm bùa, triệt phá. Do vậy nếu nói về Địa lý, ngoài việc nghiên cứu lý thuyết, muốn làm thầy, táng được huyệt còn phải có tài khu thần tróc quỷ, sai khiến quỷ thần mới có thể đặt được các ngôi đất lớn. Nếu không có phép ấy, ắt sẽ bị phản hại mà mang họa vào thân)


Cao Biền đã tiến hành trấn yểm các ngôi đất lớn nhưng hầu hết đều thất bại, chuyện đó sẽ nói tiếp trong kỳ sau.


Trở về với ngôi đất thành Thăng long, Cao Biền đã diễn ca ngôi đất như sau :


Thăng Long đệ nhất đại huyết mạch, Đế vương quý địa :


Giao châu hữu chi địa -(đất Giao Châu có một ngôi đất)


Thăng long thành tối hùng -(thăng long tối hùng mạnh)


Tam hồng dẫn hậu mạch -(ba con sông lớn dẫn hậu mạch, tiếp khí cho mạch là sông Thao, sông Lô, sông Đà).


Song ngư trĩ tiền phương -(hai con cá dẫn đường, chính là bãi Phúc Xá ngoài sông Hồng)


Tản lĩnh trấn Kiền vị -(núi Tản Linh trấn tại phương Kiền – tây bắc)


Đảo sơn đương Cấn cung -(núi tam Đảo giữ phương Cấn - Đông bắc)


Thiên phong hồi Bạch hổ -(nghìn ngọn núi quay về Bạch hổ)


Vạn thủy nhiễu Thanh long -(muôn dòng nước từ ba con sông Thao, Lô, Gâm đều tụ lại tại nga ba Việt trì, chảy về nhiễu Thanh Long)


Ngoại thế cực trường viễn -(thế bên ngoài rất rộng và xa, tất cả cá núi non trên suốt mạch sông Hồng từ Việt trì đến Ninh Bình đều chầu về)


Nội thế tối sung dong -(thế bên trong rất mạnh mẽ, đầy đặn)


Tô giang chiếu hậu hữu -(sông Tô lịch dẫn mạch từ phía sau, bên phải)


Nùng sơn cư chính cung -(núi Nùng đóng tại chính cung)


Chúng sơn giai củng hướng -(tất cả núi non đều hướng về rất đẹp)


Vạn thủy tận chiều tông -(là nơi tận cùng, hợp lưu của mọi dòng nước từ thượng nguồn dẫn khí mạch về)


Vị cư cửu trùng nội -(là nơi ở của vua chúa (cửu trùng), đất làm kinh đô)


Ức niên bảo tộ long -(có thể bền vững tới 10 vạn năm)


Cầu kỳ Hổ bất bức -(…….)


Mạc nhược trung chi đồng -(…….)


Mặc dù rất ngắn gọn, nhưng bài diễn ca trên đã nói nên cái thế đất của thành Thăng long cực lớn. Các nhà địa lý đời sau phân thế, gọi là Bát tự Phân lưu Hư hoa Hà nội (là nơi nước phân lưu như hình chữ bát). Trong bài diễn ca trên, ngoài các mô tả chung, cần chú ý tới mấy điểm đặc biệt :


Thứ nhất, là vị trí huyệt kết, thông thường định huyệt kết rất khó khăn, nhưng ở đây Cao Biền đã nói rõ “Nùng sơn cư chính cung”, đó chính là nơi huyệt kết chính cung. Núi Nùng bây giờ không còn nữa, mọi người thường nhầm với gò đất ở trong vườn hoa Bách thảo, theo các nhà khảo cổ đánh giá, có lẽ nó nằm tại vị trí gần khu Hoàng thành cổ, đền Bạch mã là khu vực chân núi.


Thứ hai, trong bài diễn ca trên, câu đầu tiên “Thăng long thành tối hùng”, rất nhiều người dịch là thành Thăng long, nhưng cái tên Thăng long là mãi đến đời Lý mới có. Theo ý kiến các nhà Địa lý, “Thăng long” ở đây có lẽ là nói về cái thế đất, khí mạch thăng lên. Mạch đang đi chìm, đến vị trí này nổi nên kết phát nên gọi là Thăng Long. Và đây cũng là một cơ sở của cái tên Thăng long sau này, chưa hẳn đã là theo truyền thuyết đức Lý thái tổ nhìn thấy rồng bay lên mà đặt tên. Quan điểm này còn nhiều tranh cãi.


Thứ ba, Trong bài diễn ca trên có hai câu cuối rất khó hiểu, nhiều người dịch, mỗi người một ý. Nhưng theo đa phần các nhà Địa lý đều thống nhất một ý như sau: (bỏ qua phần văn phạm dịch thuật). “Cầu kỳ Hổ bất bức, Mạc nhược trung chi đồng” có nghĩa là nếu không bức được Bạch Hổ thì bất quá cũng chỉ là nơi đồng không mà thôi.


Trong thuật Địa lý, nước dẫn khí mạch về để kết huyệt, Long Hổ hai bên lưu giữ khí mạch cho khỏi thoát, khỏi bị phong suy. Nhưng Thanh long là cát thần, ngôi trưởng, Bạch hổ là hung thần, ngôi thứ, cho nên Long phải dài hơn Hổ, phải nằm bên ngoài Hổ, phải khống chế được Hổ thì mới yên, ngược lại là loạn, thứ tất đoạt trưởng, sinh nhân hung ác, phản nghịch, tất sinh biến. Nếu khí mạch khi nhập huyệt mà lại nghịch hướng, hoặc quá lớn mà tản mát sẽ nuôi dưỡng cả Long và Hổ. Nếu nuôi dưỡng Long thì lành, nuôi dưỡng Hổ thì hung. Đối với thành Thăng Long, khi nhập huyệt, khí mạch được ba con sông Tô lịch, Kim ngưu, và Thiên phụ (cái tên sông này không biết có chính xác không, tôi chưa tra cứu được) dẫn về, trong đó sông Tô lịch nằm đằng sau, phía Phải hơi chệch đường, nuôi dưỡng cho Bạch hổ. Ba con sông này tập trung tại khu vực cuối đường Bưởi gần Hồ Tây, là chỗ mà người ta đã đào được trận đồ bát quái. Đây chính là nơi Thủy Khẩu.


Nhận thấy đây là một Quý địa, là nơi đế đô có thể bền vững tới 10 vạn năm, nếu trị được ngôi đất này có thể làm đất kinh đô được. Cho nên Cao Biền ra tay trấn yểm, không phải với mục đích là triệt phá thế đất Thăng long mà mục đích là khống chế khí mạch không cho nuôi dưỡng Bạch hổ nữa (Thực ra có muốn triệt phá cũng không thể đủ sức, đủ tài làm việc này, vì ngôi đất này cực lớn). Nơi trấn yểm được ông chọn là Thủy khẩu, nơi con sông Tô lịch dẫn khí mạch về bên Bạch Hổ. (xin chú ý đây là nói về nội Long và nội Hổ, vì thế đất Thăng Long có nhiều tầng Long Hổ). Với mục đích là chọn đất đặt Kinh Đô, nhằm đô hộ lâu dài đất Giao Châu.


Khi Cao Biền trấn yểm, có lẽ do linh khí núi sông linh thiêng, do anh linh bao đời của dòng giống Lạc Hồng bất khuất đã hiển linh xuất thánh, không để cho Cao Biền thực hiện ý định đóng đô lâu dài nên đã ra sức cản phá, kết hợp với nhân dân lúc bấy giờ tìm mọi cách ngăn cản cho nên Cao Biền đã thất bại. Ông đã không xây dựng được nơi chính huyệt, Cao Biền đành chuyển ra bên cạnh đóng đô nơi thành Long Biên, là tòa thành đã có từ trước. Cũng chính vì vậy mà sự nghiệp của Cao Biền ở nước Nam đã không kéo dài được. Và thành Long Biên sau này cũng chỉ là một thành nhỏ, trước đây không một đời vua nào đóng đô ở đây được lâu bền cả, như Mai Thúc Loan, Lý Bí … cũng đều đóng đô ở Long biên, nhưng chỉ được thời gian rất ngắn ngủi.


Các vị thần được phong là Thăng long Tứ Trấn đã có công giữ thành, giữ đất, đến nay vẫn được nhân dân Nam Việt biết ơn, thờ phụng. Công đức của các ngài gắn liền với đất Thăng Long - Hà Nội. Và các ngài đến nay vẫn giúp cho cháu con nước Việt gìn giữ một Kinh thành với thế đất nổi danh quý địa Bát tự phân lưu.


Chi tiết các đợt trấn yểm của Cao Biền sẽ được Trần Ái Quốc chuyển tải tới độc giả vào kỳ sau với tên: “Trấn yểm long mạch nước Nam – âm mưu thâm độc của phong kiến phương Bắc”.


Trần Ái Quốc

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

Vấn đề nhân quyền ở Mĩ - Phần 1

[caption id="attachment_1301" align="aligncenter" width="580"]Nhân quyền " Kiểu Mỹ " ( nguồn nguyentandung.org) Nhân quyền " Kiểu Mỹ " ( nguồn nguyentandung.org)[/caption]

Con người với bản năng và tính xã hội của mình luôn hướng tới Chân (cái thật, cái đúng), Thiện (cái tốt lành) và Mỹ (cái đẹp). Chính vì thế, dù chịu sự chi phối bởi lợi ích cá nhân trong các hoạt động của mình thì khát vọng về “quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” trở thành điểm tương đồng của tất cả mọi người. Song khát vọng chung nhất ấy đã bị chà đạp, kìm nén khi xã hội loài người phân chia thành những giai cấp khác nhau; có tập đoàn người này áp bức, thống trị tập đoàn người khác, thông qua những quy định, sắc lệnh (luật pháp) của nhà nước do giai cấp thống trị nắm giữ và điều hành. Cũng từ đó mới xuất hiện cuộc đấu tranh cho khát vọng chung, mới xuất hiện “nhân quyền” và cuộc đấu tranh cho nhân quyền. Có thể nói rằng, tuyên bố của Spactaquyt về quyền của nô lệ chống áp bức bóc lột của chủ nô năm nào là tuyên bố nhân quyền đầu tiên, có dấu ấn lớn nhất dưới chế độ chiếm hữu nô lệ.


Tuy nhiên, phải đến giữa thế kỷ thứ XVIII, giai cấp tư sản giải phóng tiểu nông khỏi sự bóc lột và thống trị của các lãnh chúa phong kiến thì đây mới được coi là ngọn cờ nhân quyền lớn nhất của thời đại cách mạng tư sản. Không phải ngẫu nhiên mà nhân loại hân hoan chào đón “Tuyên ngôn Độc lập” của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp.


Bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ được một ủy ban gồm 5 người, đứng đầu là Thomas Jefferson soạn thảo và được Hội nghị Lục địa lần thứ 2 long trọng công bố ngày 4 tháng 7 năm 1776. Nội dung cơ bản của Tuyên ngôn là lời tuyên bố các quyền tự do dân chủ tư sản và khẳng định nền độc lập của các bang ở Bắc Mỹ. Bản Tuyên ngôn nêu rõ: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho họ những quyền bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.


Thế nhưng, từ trước cho đến nay ở Mỹ đã thực sự tồn tại cái gọi là nhân quyền theo đúng nghĩa hay chưa?


Lật ngược lại lịch sử, có thể thấy chế độ nô lệ được chấp nhận ở các bang miền Nam trong suốt 75 năm đầu tiên của nền Cộng hòa Mỹ. Tình trạng phân biệt chủng tộc tại các trường học, các khu công cộng và định kiến xã hội. Cần phải nói đến việc người Mỹ bản xứ (người da đỏ) bị buộc phải di chuyển về miền viễn Tây (người da đỏ bị mất nhà cửa, đất đai, tài sản, gia súc và bị tàn sát dã man).


Mãi đến nửa đầu thế kỷ 20, phụ nữ mới được quyền bầu cử, được tham gia bồi thẩm đoàn, và có quyền sở hữu tài sản trong vai trò người vợ.


Martin Luther King (Mục sư Baptist, nhà hoạt động dân quyền người Mỹ gốc Phi, và là người đoạt Giải Nobel Hoà bình năm 1964) từng chỉ trích chính nước Mỹ về tình hình nhân quyền, sau đó đã bị ám sát, đến nay vẫn chưa tìm ra được kẻ chủ mưu.


Trong cuộc chiến tranh Irad, vào tháng 3/2003, lấy cớ tìm kiếm vũ khí hủy diệt hàng loạt, và giải phóng nhân dân Irad khỏi chế độ độc tài, vi phạm nhân quyền, liên quân do Mỹ đứng đầu với khí thế áp đảo về lực lượng và vũ khí công nghệ cao đã tiến hành cuộc chiến lật đổ chế độ của Tổng thống Saddam Hussein bất chấp nghị quyết của Liên hợp quốc phủ quyết hành động này của Mỹ. Trong thời gian chiếm đóng, cuộc chiến của Mỹ đã làm hơn 100.000 dân thường Iraq chết. Sau này, không tìm thấy bằng chứng nào của sự tồn tại của vũ khí hủy diệt, chính phủ Mỹ đã buộc phải công khai thừa nhận nguồn tin Irad có vũ khí hủy diệt hang loạt, nguyên nhân trực tiếp mà Mỹ nêu ra để tiến hành chiến tranh xâm lược Irad chưa được kiểm chứng và sai. Vậy là cuối cùng, cũng chỉ vì một nguồn tin chưa được kiểm chứng mà Mỹ bất chấp sự phủ quyết của Hội đồng bảo an liên hợp quốc, xem thường tính mạng của người dân, cùng đồng minh tiến hành xâm lược, gây bao chết chóc, tang thương cho người dân Irad. Đó là hành động ngông cuồng, chà đạp lên luật pháp và những nguyên tắc dân chủ quốc tế, vi phạm nghiêm trọng nhân quyền của người dân nước khác.


     Xuân An

Nhân quyền Mỹ - Việt

  


images


Nhân quyền đã trở thành mối quan tâm của toàn nhân loại. Khái niệm nhân quyền ngày càng được mở rộng và được quy định thành các tiêu chuẩn trong hệ thống pháp lý quốc gia và quốc tế.


Việc giải quyết vấn đề nhân quyền tùy thuộc chặt chẽ vào các điều kiện xã hội của mỗi nước, đặc biệt là điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tôn giáo, phong tục tập quán... Do đó, bên cạnh sự thừa nhận các giá trị chung, mỗi quốc gia tùy điều kiện của mình mà thực thi nhân quyền riêng, mang tính đặc thù. Đó là công việc nội bộ của mỗi nước, không thể chấp nhận sự can thiệp, áp đặt từ bên ngoài.


Đạo luật nhân quyền Việt Nam của Mỹ đã xuyên tạc, vu cáo trắng trợn về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Đưa ra quy định thành lập cái gọi là Ủy ban điều hành Quốc hội Mỹ về Việt Nam. Bên cạnh đó, còn công khai, hợp pháp hóa sự viện trợ, ủng hộ của mình đối với các cá nhân, tổ chức chống Việt Nam, trong cái gọi là trợ giúp, ủng hộ cho nền dân chủ ở Việt Nam.


Cùng với đó là những điều phi lý, ngang ngược, mà nếu chính phủ Việt Nam không đáp ứng các yêu cầu thì họ gây sức ép, buộc phải chấp nhận.


Mỹ từng xâm lược Việt Nam, gây bao đau thương cho Việt Nam, đến bây giờ vẫn còn hậu quả nặng nề. Vì vậy, sự can thiệp, áp đặt của Mỹ là hành động lạc lõng, đi ngược lại xu thế hiện nay, là thể hiện sự hận thù chống lại đất nước và dân tộc Việt Nam.


Trong xã hội Mỹ còn đầy rẫy những vấn đề vi phạm đến quyền con người như vấn đề phân biệt chủng tộc, nghèo đói, bạo lực tràn lan. Theo Bộ Tư pháp Mỹ mỗi ngày có 60 người Mỹ bị giết, 6000 người bị tàn phế do bạo lực. Sống trong một xã hội như vậy ngay cẩ đến quyền sống còn chưa được đảm bảo nói chi đến những quyền khác. Chính phủ Mỹ đang rao giảng nhân quyền cho cả thế giới, song chính họ đang thực hiện những chính sách cường quyền, chà đạp thô bạo chủ quyền các dân tộc, thể hiện một thái độ vô trách nhiệm của mình trước các vấn đề sống còn của toàn nhân loại như rút khỏi nghị định Ky-ô-tô về bảo vệ môi trường, thoái thác trách nhiệm về vấn đề chống phân biệt chủng tộc, theo đuổi xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa, tiến hành chiến tranh can thiệp, lật đổ khắp thế giới... Với thái độ và chính sách ngang ngược, ngạo mạn đó đã bị thế giới lên án và tẩy chay. Do vậy, nếu thực sự quan tâm đến vấn đề nhân quyền thì việc đầu tiên nước Mỹ phải làm là giải quyết các vấn đề nhân quyền của mình, thể hiện sự tôn trọng, trách nhiệm của mình trước các quyền cơ bản, nguyện vọng và lợi ích sống còn của nhân dân các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam.


    Trần Ái Quốc            

Nhân vật điển hình tiên tiến trong phong trào “Thoái hóa biến chất”- Lê Hiếu Đằng

 Lê Hiếu Đằng


Hòa trong những phong trào chung của thời đại hiện nay, phong trào thoái hóa biến chất trở thành một phong trào tiên phong cho những kẻ suy thoái về tư tưởng, đạo đức, là môi trường nuôi dưỡng những mầm mống phản cách mạng, bất mãn với chế độ. Một trong những điển hình tiên tiến của phong trào ấy chính là kẻ chúng tôi muốn làm sáng tỏ bộ mặt thật ngay bây giờ - Lê Hiếu Đằng.

Cũng như bao ngày bình thường khác, hôm nay tôi dạo qua các trang mạng và thật bất ngờ, cái tên Lê Hiếu Đằng xuất hiện dày đặc với những tiêu đề rất “sốc” như “Lê Hiếu Đằng kẻ ngu xuẩn nhất thời đại”, “phản động là bản chất của Lê Hiếu Đằng”… Điều đó khiến tôi phải đi tìm sự thật đằng sau những phản ánh đó. “Không có lửa làm sao có khói” ông cha ta nói quả thật không sai chút nào. Được biết Lê Hiếu Đằng là một trong những cán bộ cộng sản kiên trung trong chiến tranh chống quân xâm lược. 45 năm đứng trong hàng ngũ của Đảng, được Đảng giao phó nhiều trọng trách quan trọng như Phó chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Dân chủ và pháp luật thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở TP.HCM, thế nhưng gần đây Lê Hiếu Đằng bộc lộ tư tưởng phản cách mạng, đi ngược lại quyền lợi của toàn dân tộc. Một kẻ từng đi theo ánh sáng của Đảng, thề một lòng “ vì sự nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam” lại có những phát ngôn “bừa bãi, quá trớn”, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng. Thoái hóa biến chất dường như đã ăn vào máu của Lê Hiếu Đằng, trở thành “con sâu” đục khoét nhân cách “bẩn thỉu” của hắn.

Không chỉ riêng cá nhân tôi mà còn rất nhiều người yêu nước khác đều căm phẫn với lời nói, hành động của Lê Hiếu Đằng. Chủ trương đa đảng, đa nguyên của hắn ta trong tựa đề bài viết: “ Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh” mang lời lẽ,  luận điệu đầy tính khiêu khích, coi thường kỉ cương phép nước. Lê Hiếu Đằng biện minh cho luận điệu của hắn mà khiến người đọc, người nghe không thể chấp nhận được. Mục đích của hắn đó là phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, chủ trương dân chủ hóa đất nước, đa nguyên đa đảng.Xin thưa với ngài Lê Hiếu Đằng rằng Tổ quốc Việt Nam, Nhân dân Việt Nam đã chịu biết bao mất mát, khổ đau mới giành được hòa bình, độc lập, tự chủ cho dân tộc, đó là nhờ vào sự lãnh đạo sáng suốt , tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cả dân tộc Việt Nam và bạn bè trên khắp thế giới đều công nhận điều đó. Xin hỏi những ngày tháng khó khăn nhất của dân tộc, nhiều khi đất nước rơi vào tình trạng “ Ngàn cân treo sợi tóc” thì những kẻ, những tổ chức rêu rao “Đa nguyên, đa đảng” đang ở đâu. Hay là cấu kết với bọn giặc ngoại xâm để bán nước.


Cần phải khẳng định rằng, Việt Nam chưa cần phải đa nguyên đa đảng. Nhân dân Việt Nam luôn luôn tin tưởng con đường mà Đảng đã chọn cho cả dân tộc. Cái luận điệu của Lê Hiếu Đằng hoàn toàn phản khoa học, không phù hợp với nguyện vọng và ý chí của nhân dân. Nên nhớ rằng con đường Đảng chọn đều dựa trên sự đòi hỏi khách quan của lịch sử, dựa vào nguyện vọng của nhân dân.

Chừng nào những kẻ phản cách mạng như Lê Hiếu Đằng còn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật thì đất nước Việt Nam cần phải đoàn kết với nhau để thanh lọc, loại bỏ những kẻ như hắn ta ra khỏi đời sống xã hội. Lê Hiếu Đằng là sản phẩm của chủ nghĩa cơ hội, xét lại. Trong lịch sử phát triển của nhân loại, những kẻ theo chủ nghĩa xét lại cơ hội là mối nguy đe dọa đến hòa bình thế giới. Và Lê Hiếu Đằng chính là mầm mống của những mối nguy đó.

Đứng sau Lê Hiếu Đằng là những thế lực thù địch, với âm mưu “diễn biến hòa bình”, đe dọa đến sự tồn vong của dân tộc. Bề ngoài thì rêu rao dân chủ, yêu nước nhưng sâu thẳm bên trong của Lê Hiếu Đằng là âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, xây dựng nên chế độ đa nguyên đa đảng để đưa cả dân tộc vào xung đột, bạo loạn. Đi chung con đường “Tà đạo” của Lê Hiếu Đằng là những kẻ đã nhiễm phải căn bệnh khó chữa-thoái hóa biến chất. Lợi dụng thời điểm Đảng ta đang lấy ý kiến nhân dân để sửa đổi Hiến pháp, Lê Hiếu Đằng và đồng bọn (Nhóm Kiến nghị 72) đã có những hoạt động nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, cụ thể là chủ trương xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp. Thật buồn và xót xa cho những kẻ phản bội dân tộc.

Được hưởng thụ hòa bình, ấm no, hạnh phúc do Đảng mang lại. Đáng ra Lê Hiếu Đằng phải nỗ lực hết mình để phuc vụ Đảng, phục vụ nhân dân, thế nhưng hắn ta lại đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân. “Ăn cháo đá bát” là biểu hiện rõ rệt trong con người của Lê Hiếu Đằng. Nếu có giải thưởng cho những kẻ thoái hóa biến chất thì Lê Hiếu Đằng chắc chắn sẽ đạt danh hiệu “ Nhân vật điển hình tiên tiến trong phong trào thóa hóa biến chất”.


 
Chia sẻ