Nhãn

Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2014

MỘT GÓC NHÌN MỚI QUA VIỆC VIẾNG ĐỀN CỦA THỦ TƯỚNG NHẬT BẢN SHINZO ABE

Thế giới hiện đại đang chứng kiến những sự đổi thay đến khó tin mà theo đó, bàn cờ chính trị thế giới đang xuất hiện một số nhân tố đủ sức làm tạo nên một diện mạo đa chiều và hấp dẫn hơn. Nếu trước đây sau sự kiện phe phát xít thua trận và phải đầu hàng quân Đồng Minh, tiếp đó là việc Liên Xô và Đông Âu sụp đổ sau gần một  thế kỷ xây dựng và tồn tại, thế giới đã từng định hình Mỹ là một thế lực duy nhất trên thế giới; thế giới chỉ phát triển và xoay quanh trục ảnh hưởng do chính nước Mỹ tạo dựng và vận hành. Và sẽ khó có một quốc gia nào đủ sức lật đổ, hạ bệ vị thế của nước Mỹ bởi cùng với những thắng lợi mang tính bước ngoặt ấy, những người Mỹ đã nhanh chóng tạo dựng cho mình được những "vốn" ảnh hưởng nhất định. Những quốc gia, khu vực thuộc ảnh hưởng, bảo trợ của Mỹ cho thấy sức mạnh và địa vị của quốc gia này trong một trật tự thế giới mới. 




Thủ tướng Nhật Shinzo Abe.
Là một nước thua trận và chịu không ít "phí tổn chiến tranh", nước Nhật lâm vào tình trạng kiệt quệ từ chính nước Mỹ, trở thành sân sau, nơi Mỹ đóng các căn cứ quân sự và thực thi những khoản đầu tư thu lợi cực lớn. Đặc biệt, dưới cái ô bảo trợ hạt nhân của Mỹ, Nhật Bản đã không được phép và cũng không cần thành lập Bộ Quốc phòng như các nước trên thế giới. Họ đã được những người Mỹ làm thay nhiệm vụ này. Mặc dù đã được bảo trợ từ Mỹ song những nhà lãnh đạo Nhật qua các thời kỳ và người dân Nhật - một quốc gia được biết đến với tinh thần tự cường thời kỳ Nhật Hoàng Minh Trị đã cảm thấy đó là một sự xúc phạm, ảnh hưởng quá lớn đối với truyền thống và danh dự của người Nhật. Họ đã ý thức từ lâu về sự vươn lên, trỗi dậy để vừa là chính mình, vừa thoát khỏi sự lệ thuộc từ chính nước Mỹ. 

Song, điều mà những nhà lãnh đạo Nhật cũng ý thức rất rõ nét về sự ảnh hưởng, tầm bao quát của Mỹ đối với tất cả các mặt của đời sống kinh tế Nhật. Nó lâu bền tới nỗi chỉ cần một động thái từ Mỹ cũng có thể đe dọa đến sự bền vững kinh tế, chính trị từ quốc gia này. Để thực hiện mục tiêu của mình, người Nhật đã tính toán một cách cẩn thận và nghiêm túc, nhất là những thiệt hơn từ chính những ảnh hưởng nếu có những bất đồng, sâu sắc từ phía Mỹ. Chính vì vậy, thay vì làm một cuộc "Cách mạng" như nhiều nước Trung Đông, Bắc Phi vẫn làm, Nhật Bản chọn cách làm từ từ và có lộ trình thích hợp. Họ không nón vội, từng giai đoạn một việc làm cụ thể. Điều này sẽ tránh được những phản ứng thái quá từ Mỹ và đồng thời đảm bảo Mỹ sẽ là một chỗ dựa để Nhật Bản có đủ sức mạnh để bảo vệ mình trước những sự lăm le, dòm ngó từ ông bạn láng giềng bẩn tính (TQ). 

Theo dõi những gì đã từng diễn ra trong một chuỗi thời gian dài, Nhật bản đang thực thi một lộ trình khiến thé giới, nhất là nước Mỹ không cảm thấy những sự thay đổi quá lớn cũng như những nguy cơ đe dọa chính sự ảnh hưởng và lệ thuộc của Nhật bản vào Mỹ. Nếu trước đây, người Nhật luôn định hình việc Mỹ chính là "người gìn giữ an ninh ở đây" thì cách đây 4 năm người Nhật đã thành lập một lực lượng phòng vệ cho riêng mình và gần đây nhất là việc thành lập Bộ Quốc phòng cho riêng mình. Tất nhiên, việc thành lập những cơ quan này được sự cho phép của Mỹ và nó còn liên quan đến những nguyên tắc mà người Nhật cam kết sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Có thể xem đây là hành động khởi đầu cho những nố lực thoát khỏi sự ảnh hưởng từ chính nước Mỹ của Nhật và có vẻ như điều này được tiến hành thuận lợi, không tạo ra những luồng phản ứng ngược từ thế giới. 

Trên thực tế, quan hệ giữa Nhật bản và những quốc gia láng giềng có những bước thăng trầm nhất định, thậm chí có giai đoạn đã đi vào đối đầu, căng thẳng. Tất cả liên quan đến những chuyến viếng đền của những nhà lãnh đạo nước này bởi đền Yasukuni là biểu tượng cho một nước Nhật trong những năm tháng thế chiến thứ hai. Ở đó, họ là một thành phần quan trọng trong đội quân phát xít đe dọa nền hòa bình của nhân loại. Tuy nhiên, khách quan để nói thì đó cũng chính là giai đoạn nước Nhật là chính mình, là một quốc gia tự chủ, hùng cường; sức mạnh về kinh tế, quân sự của họ làm cho nhiều quốc gia khiếp đảm. Cho nên, nếu với những nạn nhân như TQ, Hàn Quốc thì sức mạnh đó đáng lên án và nguyền rủa thì trong một chừng mực đó là niềm tự hào của Nhật Bản. Nếu chúng ta hiểu ý nghĩa của những cuộc viếng đến theo nghĩa này thì có thể thấy, việc viếng đền không đơn thuần chỉ gợi lên những quá khứ xấu mà chính là một hành động biểu thị Nhật Bản đang muốn tìm lại chính mình: hùng cường và đầy sức mạnh; chứ không như những động thái mà phía TQ từng rêu rao và lên án. Những hành động như: "Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã kỉ niệm 1 năm quay trở lại nhiệm sở vào ngày 26/12 bằng cách tới thăm đền Yasukuni. Trong suốt 1 năm đó, ông Abe đã có nhiều động thái thể hiện ông muốn cải chính "lời xin lỗi chân thành" và "hối hận sâu sắc" đối với cuộc "xâm lược" của Nhật Bản" mà cựu Thủ tướng Nhật Tomiichi Murayama đưa ra năm 1995."

Những động thái nói trên không nằm trong mục đích phủ nhận những tội ác của người Nhật trong chiến tranh. Xa hơn, nó gián tiếp khẳng định khát vọng "xem xét lại thời chiến và công khai thể hiện mong muốn sửa đổi Điều 9 trong bản Hiến pháp Hoà bình (quy định người Nhật không dùng gây chiến để bảo vệ lãnh thổ và giải quyết tranh chấp quốc tế) cho thấy sự khao khát được thoát khỏi vòng tay của Mỹ" nhằm thoát khỏi những sự lệ thuộc mang tính  truyền thống, lâu đời. 
Cho dù những hành động vừa qua bắt đầu gặp phải sự phản đối của Mỹ thì việc Nhật Bản làm hôm nay không chỉ phù hợp với nguyện vọng của người dân Nhật; nó còn cho thấy, vị thế nước Mỹ tại những khu vực truyền thống đang có nguy cơ bị sụt giảm. Một trật tự thế giới đa cực sẽ càng rõ nét hơn sau sự trỗi dậy của Nga, TQ, Nhật, Ấn Độ...
An Chiến

Nói chuyện với mấy nhà rân chủ nhân dịp năm hết, tết đến

Tôi cứ phân vân và lần lữa mãi rồi đành phải viết ra những suy tư trăn trở. Xã hội đang lúc rối ren lại thêm quý ngài “dân chủ” quậy lên tưng bừng gây sự hoang mang cho không ít người khiến xã hội càng thêm rối loạn. Bài học thập niên những năm 1980, theo làn gió “pêrestrôika” người ta đòi “công khai, công khai hơn nữa – dân chủ, dân chủ hơn nữa” để rồi một liên bang vĩ đại đổ cái rầm, kéo theo một dây chuyền “domino” bi thảm!


Có quốc gia được thống nhất mạnh lên cùng lúc nhiều quốc gia bị xé nhỏ ra luôn chứa nhiều bất ổn. Tất nhiên nguyên nhân dẫn tới hiện trạng đó không chỉ là “bởi âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch bên ngoài”. Đòi hỏi con người cần phải tỉnh táo và thật sự cầu thị mới vạch ra được những căn nguyên sâu xa để định hướng đi tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong cơn biến động ấy, nhân lúc “đục nước béo cò” số lượng khổng lồ của cải xã hội đã lọt vào tay nhúm người đi đòi “dân chủ” và thoáng chốc họ trở thành những nhà đại tư bản lũng đoạn toàn xã hội. Còn những người dân lương thiện thật thà nhẹ dạ cả tin bị chìm trong cảnh nheo nhóc khốn cùng. Phải tới 20 mươi năm sau xã hội mới dần ổn định nhưng vẫn ẩn chứa những mầm mống bất an. Tuy nhiên sự việc ấy xảy ra ở nước Nga với một dân tộc vĩ đại, có truyền thống văn hóa lớn, có tiềm năng lớn về mọi mặt mới dần đi vào quỹ đạo của một xã hội tiến bộ văn minh. Trước đó người ta cứ rêu rao rằng bởi chế độ độc đảng, độc tài, “quyền con người” bị tước đoạt mới bùng nổ sự bất bình phản kháng. Nhưng khi chế độ cộng sản không còn nữa thì nước Nga vẫn bị xâu xé bởi nhiều thế lực đâu có được yên bình và luôn nằm trong tầm ngắm của hệ thống tên lửa hiện đại phương tây như nằm trên thớt đồng thời phong trào hòa bình và giải phóng dân tộc toàn thế giới mất đi một chỗ dựa vững chắc!


Tranh-truu-tuong


Dần dà, con người nhận ra rằng ước mong một xã hội cứ bình lặng chảy trôi êm đềm là điều không tưởng. Xã hội yên rồi lại biến, biến rồi lại yên, tan rồi lại hợp, hợp rồi lại tan, loài người từng thấy. Tuy nhiên trong một xã hội văn minh, con người giỏi hơn, khôn hơn là phải biết tự làm mới mình cho xã hội đẹp hơn, con người sướng hơn chớ không dại nghe ai, theo ai rủ rê dẫn dắt mình quàng xiên làm những điều điên rồ mà chẳng biết kết cục sẽ là gì.


Cụ Hồ nói: “Một người tốt chưa hẳn tốt mãi nếu không luôn biết sửa mình. Một tổ chức mạnh chưa hẳn mạnh mãi nếu không còn được lòng dân”. Bởi thế nhìn sự đổi thay của nhà cầm quyền là nhìn vào sự chuyển mình của xã hội có ngày một cởi mở hơn, tiến bộ hơn không để người dân có cơ sở đặt vào đó niềm tin tưởng. Nhìn vào những người nhân danh một điều gì đó tốt đẹp đang nhảy ra hò hét đòi thay đổi đủ thứ, đòi đủ thứ “quyền”, tung đủ thứ tin làm nhiễu loạn xã hội thì mỗi người trước hết cần tìm hiểu lai lịch xem họ là ai, đã làm được những việc gì xứng đáng cho dân và nếu nghe họ, làm theo họ sẽ đưa mình tới đâu và xã hội sẽ ra sao? Hãy nhìn vào hiện tình thế giới càng thấy rằng cái quyền thiết yếu nhân dân ta mong mỏi lúc này là được sống trong hòa bình yên ổn, được ăn no, mặc ấm, được học hành, có việc làm ổn định và được hưởng sự chăm sóc tử tế về an sinh xã hội. Mọi thứ quyền tự do dân chủ sẽ từ đó được mở rộng dần ra chứ quyết không để cho kẻ nào được quyền tự do tham nhũng lũng đoạn xã hội cũng như quyết không cho ai được quyền quấy rối làm xã hội nhiễu nhương them.


Trong số 72 nhân vật được thổi lên hàng “chiến sỹ dân chủ” nói rằng đại diện cho hàng ngàn người dù chưa biết thật ảo thế nào, đều là những người có học nhiều hay ít, từng một thời có danh có giá và được hưởng lộc xã hội chán chê dù chưa hẳn đã xứng với tầm của họ, trong khi nhân dân cả nước chịu nhiều gian khổ khó khăn. Người ta gọi họ là trí thức với đủ các chức danh bằng cấp cả thực lẫn hư. Thực ra tất cả họ không phải đều là ngụy tạo. Có người tài thật sự và thành tâm muốn mang lại điều tốt hơn cho xã hội. Nhưng có không ít người muốn đánh bóng tên mình trong khi tài đức chỉ đến thế thôi. Tuy nhiên họ tự trộn lẫn với nhau để tạo số đông gây áp lực tất nhiên thành một mớ hổ lốn khó nhận vàng thau, chỉ có thể lôi kéo được một số người nhẹ dạ cả tin thôi. Khổng Tử phân biệt sự khác nhau giữa bậc “nho quân tử” với hạng “nho tiểu nhân” là: “Nho quân tử” là người học đạo thánh hiền để sửa mình cho thành người có phẩm giá tôn quí, dẫu bần cùng cũng không làm điều trái đạo. “Nho tiểu nhân” là người mượn tiếng học đạo thánh hiền để cầu danh cầu lợi, miệng nói những điều đạo đức mà bụng nghĩ làm những việc bất nhân bất nghĩa. Nho xưa và trí thức nay đều thế. Thử điểm danh vài “chiến sỹ” hăng hái nhất và được các phương tiện truyền thông hay trưng ra để làm oai tạo thế.


Đầu sổ là ông Nguyễn Phước Tương (Tương Lai). Với cương vị từng là Viện trưởng Viện khoa học xã hội tạo cho ông có mối quan hệ rộng lắm, ảnh hưởng xã hội lớn lắm và được lòng người nhiều lắm. Khối người “văn kỳ thanh” ông từ lâu mà đến dịp đám ma cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt mới được “kiến kỳ hình”. Khi thấy cảnh một lão già tóc bạc phơ khóc rống lên nức nở lắm, ai oán lắm, đau đớn lắm, hơn cả những người thân thích ruột rà với người quá cố đang túc trực bên linh sàng kia dù rằng người phải rứt áo ra đi cũng đã được hưởng quá nhiều lộc trời lộc nước. Đến khi nghe người ta kháo tên ông ra thì ai cũng lắc đầu “hỡi ôi” về ngài đứng đầu một Viện hàn lâm danh giá nhất nước. Hẳn cha ông cũng không được nhận những giọt nước mắt rứt ra từ tim gan phèo phổi của thằng hiếu tử! Đấy mới là điều thật đáng thương cho con dân của đất nước này! Có người tò mò lần tìm tung tích của ông. Thì ra ông chẳng có được sự cảm phục của mấy ai từng cộng tác dù là người lớn bé trẻ già. Người ta nói cái ghế ấy quá tầm của ông cả về tài lẫn đức. Lại có người tắc lưỡi nói ra: “Bần cùng sinh đạo tặc” rồi bỏ lửng. Xem ra ngay cả lúc đất nước khó khăn nhất ông chưa từng lâm vào cảnh gian khó bần cùng hẳn là phải có ẩn tình chi đó? Thế là cả người đời và nhà nước đều ăn ở rộng lòng quá với ông. Vậy mà ông chẳng lấy đó làm điều răn để uốn nắn việc mình làm! Về học thuật, ông nói nhiều, viết nhiều nhưng chẳng mấy ai nhặt ra được điều hay mà chỉ nhớ nhiều câu chữ dở. Hãy nghe vài chính kiến của ông:


Khi nhận xét về vương triều Nguyễn, với quyền chức của mình ông nói ra không biết ngượng mồm những lời bịp lừa thiên hạ: “Triều Nguyễn đã để lại một di sản khổng lồ vĩ đại mà không triều đại nào trong lịch sử có thể so sánh được”! Kiến thức sơ đẳng của người võ vẽ về khoa học xã hội cũng biết rằng có di sản vật chất và có di sản tinh thần. Về di sản vật chất, cứ cho rằng các đời chúa Nguyễn đã có công mở mang bờ cõi nhưng đến các triều vua con cháu đã xóa sạch công lao 300 năm “hãn mã” của tổ tiên! Tệ hơn nữa quốc danh Việt Nam đã bị xóa toẹt đi trên bản đồ thế giới! Người ta chỉ còn biết đến giữa biển Ấn Độ và biển Trung Hoa có một địa danh gọi là Indochine còn gọi là xứ Đông Dương hay là Đông Pháp với năm vùng lãnh thổ: Cochinchin, An Nam, Tonkin, Laos và Campot dưới sự thống trị của người Pháp với những hình thức cai trị khác nhau. Về di sản tinh thần, ngoài tấm gương yêu nước mới le lói từ các ông vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân liền bị thực dân phế truất và tống đi đày biệt tích, ông Tương Lai có thể đưa cái gọi là hòa ước Nhâm Tuất 1862 của triều đình Tự Đức là di sản tinh thần vĩ đại nhất và tạo ra cái “hào khí” của các ông vua Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại để dân ta có thể tự hào?!


Hai là ông Tương Lai cao giọng thuyết giảng rằng: “Khi một cái giả biến thành cái thật được đem cho thế hệ trẻ thì khác nào chất axit gậm nhấm tâm hồn lớp trẻ”. Câu hỏi đó phải để dành cho ông mới đúng. Ai từng đọc thư ngỏ của ông gửi tới TBT Nguyễn Phú Trọng đều nghĩ khẩu khí đó không thể phát ra từ miệng một người có học chứ chưa cần nói là ở người đứng đầu ngành khoa học xã hội quốc gia. Hẳn ông biết thông tin về một du khách phương tây đến Thái Lan nói điều gì đó tỏ ý bất kính nhà vua liền bị bắt và lôi ra tòa án xử 5 năm tù. Đại sứ của họ không thể làm gì. Nhưng ở ngay tại nước nhà mình các ông tức thì lu loa lên là vi phạm nhân quyền, sẽ có người bu đến gây khó dễ nhiều bề, chỉ càng làm khó khăn cho đất nước. Tại sao khi nước ta được bầu vào Hội đồng nhân quyền của LHQ lại có những kẻ là người Việt Nam chạy đi vận động phá đám và được các ông vỗ tay cổ vũ nhiệt tình? Tại sao khi nguyên thủ nước nhà qua thăm Hoa Kỳ các ông lại kiến nghị họ phải làm thế này thế khác để giảm uy tín quốc gia mình? Tái thiết quan hệ với Việt Nam không phải do họ thương xót dân ta đã nghèo lại không được hưởng tự do dân chủ, mà nó nằm trong quốc sách toàn cầu của họ. Họ làm vì lợi ích quốc gia dân tộc họ. May ra để vuốt ve nuôi dưỡng mấy con bài, họ bày trò mè nheo sách nhiễu vài điều chớ những tiếng nói lạc lõng ấy chỉ như “chó sủa trăng” thôi. Các ngài dân chủ định lấy đó làm bậc thang leo đến tận trời? Dân chủ tự do là một nhu cầu không giới hạn, mỗi nước có những bước đi tới dài ngắn nhanh chậm tùy theo thực tế khách quan, cũng không loại trừ những yếu tố chủ quan trì trệ.


Các ngài dân chủ cuồng lên đòi thay đổi Hiến pháp theo ý các ngài. Ngày 28/11/2008 Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua thì các ngài phải nghĩ lại cách hành xử lố lăng của mình. Trái lại các ngài giãy lên đành đạch lu loa khóc lóc, rủ nhau rời bỏ Đảng chẳng khác Chí Phèo ăn vạ giữa làng! Thực ra những người như thế giữ lại trong Đảng mới khó dù biết rằng họ chẳng còn tác dụng gì; chứ tống cổ họ ra khỏi Đảng thì dễ ợt mà chẳng còn phải bận tâm. Vì cái “tôi” quá to làm mờ mắt và mê mụ nên các ngài không biết rằng ngày nay các vị mang chức danh dân biểu không ai dễ sai khiến họ được đâu. Trước hết bởi đa phần họ đều có học vấn căn bản, biết nhiều thông tin và có năng lực phân tích tổng hợp, không bị lệ thuộc vào sự “bao cấp tồi tệ” và nhất là họ biết danh dự của người dân biểu nằm trong trách nhiệm.


Trước những chuyển động trên chính trường thế giới, mấy ai nghĩ rằng cứ có Hiến pháp là mọi sự thay đổi được ngay không? Coi chừng còn rắc rối. Tuy nhiên sửa đổi được Hiến pháp vào lúc này coi như là thắng lợi của toàn xã hội. Cần có một quá trình tập luyện cho các cơ quan hành pháp và ở từng người dân nữa. Xem các hiện tượng xảy ra hàng ngày thì thấy dân ta vận dụng quyền dân chủ tùy tiện lắm, ngay cả ở mấy ngài gọi là trí thức đang đi đòi dân chủ. Ông Nguyễn Khắc Viện từng nói: “Nước ta chưa có truyền thống dân chủ”. Đó là sự thật nhưng một thời ông bị hiểu lầm! Tất nhiên không ai ngây thơ nghĩ rằng đây là Hiến pháp cuối cùng. Xã hội đi lên, thiết chế xã hội phải thích ứng theo, hoàn thiện dần. “Dục tốc bất đạt” (Nhanh quá khó thành), lời dạy của người xưa ngẫm ra vẫn đúng. Nhưng điều tiên quyết là trên cơ sở phải có hòa bình ổn định. Còn như các vị cứ khuấy động lên tụ tập lôi kéo thành phe này phái nọ, dựa dẫm bên ni để trêu chọc khích bác bên tê, gây nên những sự xào xáo nội bộ, bất ổn về chính trị và an ninh xã hội, tất nhiên nhà cầm quyền buộc phải xiết lại kỷ cương trật tự, thế là các ngài cũng chẳng được yên thân và dân chúng cũng chịu vạ lây. Đa phần các ngài đều là người có học và dày dạn chính trường, hiểu rõ điều này.


Thứ đến là ông Dương Trung Quốc. Giới học sinh sinh viên Hà thành lứa U60 chẳng lạ gì ông. Ông học hành láng cháng chẳng ra đầu ra đũa. Lúc đang tuổi học ông nặng ham vui, cuối cùng sư chẳng phải, sỹ cũng không. Ông nghị Phước gắn cho ông cái nhãn “tứ đại ngu” chẳng sai đâu nhưng bởi cách nói nghe khó lọt tai nên ông ta bị giới truyền thông đánh hội đồng. Đúng là con người ta có số. Nhờ hơi hướng liệt sỹ của cha, ông được lôi ra từ cái xó văn phòng Hội nghiên cứu sử. Những ngày lê la lề hè góc phố cho ông cái tính láu cá với khẩu khí khác người: nửa trí thức nửa bụi đời, ứng biến lươn lẹo. Kiểu cách ấy đang rất hợp thời và được các nhà dân chủ coi như người phát ngôn của họ. Ông nói một đằng, làm một nẻo, lại đi hàng hai, lúc bên này khi bên nọ nên cứ bị“ném đá” dài dài. Hôm nào ông đem phiên bản trống đồng ra trưng ở đảo Trường Sa với lời kêu gọi: “Cần khơi dậy ý thức giữ gìn biển đảo của cha ông”, người ta hỏi sao ông không đem cả tượng Phan Thanh Giản và những “ranh ngôn” của lão quan già bạc nhược ươn hèn dụ dân “hãy bẻ gãy súng gươm” hàng giặc để “động viên” lớp trẻ, như ông đã từng làm ở tỉnh Bến Tre? Tự nhận là nhà nghiên cứu sử, hẳn ông nhập tâm Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch” trong ngày đầu toàn quốc chống Pháp 19/12/1946: “… Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…”. Vì “nhất định không chịu mất nước” nên phụ thân ông cùng với những chiến sỹ “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” đã ngã xuống giữa chợ Đồng Xuân trong trận chiến đấu không cân sức ngày ấy. Lịch sử giữ nước của dân tộc ta là thế, bao giờ cũng cắn răng nhẫn nhịn đến thế cùng mới đành phải cầm tầm vông, đòn gánh… đứng lên. Bọn cướp nước mọi thời phải hiểu sức nén của lòng yêu nước, chí căm thù giặc của người Việt Nam bật dậy phi thường tới mức độ nào và không chỉ có một lần.


Cổ nhân nói “Ngôn dực trường phi” (Lời nói có cánh bay xa). Đầu năm 2011, nhân vị Bộ trưởng giáo dục đầu tiên của nước VNDCCH Vũ Đình Hòe qua đời, ông bốc đồng lên ca ngợi một “thế hệ vàng” rồi không ngượng mồm cao giọng hùng hồn: “Thế hệ chúng ta mất gốc hoàn toàn”! Đúng là đang có những kẻ bằng mọi cách bôi nhọ và xuyên tạc lịch sử của tổ tiên mình, dân tộc mình trong khi nhân dân ta chiến đấu quyết liệt, kiên trì vượt qua mọi gian khổ khó khăn kể cả hy sinh bao nhiêu xương máu để giữ gìn non sông đất nước, bảo tồn bằng được cái gốc Việt của mình. Thực tế có những người ít học mà không mất gốc trong khi người có học lại mất gốc hoàn toàn. Những kẻ “ăn quả không nhớ đến người trồng cây” thì đừng mong họ có trách nhiệm với tổ quốc, đồng bào. Người ta nói “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” cho nên cổ nhân mới dạy “tu thân tại chính kỳ tâm”. Gốc của một con người là cái tâm, của một dân tộc là truyền thống giữ nước và dựng nước – gọi là hồn nước. Những truyền thống tốt đẹp ấy được bồi đắp suốt từ đời nọ qua đời kia, bất luận ở giới thượng lưu hay hàng dân dã. Sự thật rõ ràng là nước Việt Nam ta đã có một vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế. Tất nhiên là có tự hào nhưng còn hổ thẹn với người vì nội tình ta còn nhiều rối rắm trong đó các ngài cũng góp phần vào. Tuy nhiên không vì thế mà có thể nói “Thế hệ ta mất gốc hòan tòan”. “Ngôn vi tâm thanh” (Lời nói là tiếng lòng mình). Rõ là không ai khảo mà xưng. Cũng không có ai vu vạ đặt điều ra. Chẳng lẽ ông Dương Trung Quốc một người tự nhận là nhà “nghiên cứu sử”, với vai trò Tổng thư ký Hội Sử học Việt Nam, chủ biên một tạp chí lớn chuyên đề Sử học, vị dân biểu liền mấy khóa lại là người mất gốc hòan tòan?!


Trong số những người được bốc thơm là “chiến sỹ dân chủ” hiện nay, có hai nhân vật mà tôi vừa quý lại vừa buồn. Một là anh Trần Việt Phương. Người anh bà con của tôi cùng học Tú tài ban Triết với anh ở trường Bưởi và cùng trong đội quân Nam tiến những ngày đầu chống Pháp. Anh tôi đi thẳng vào Nam Bộ, nhập vào Chi đội Sáu chiến đấu ở miền Đông, không may bị địch bắt và đày ra Côn Đảo. Sau Hiệp định Genève, anh không có trong số người được hai bên trao trả mà bị giữ lại đưa về quản thúc ở Mỹ Tho. Có vốn chữ nghĩa, anh sống qua ngày bằng nghề thầy giáo dạy trường tiểu học tư thục, rồi lập gia đình. Trong khi bạn anh tới Khu Năm thì gặp ông Phạm Văn Đồng và cuộc đời thuận buồm xuôi gió. Sau năm 1975 anh tôi về thăm quê Hà Nội, gặp lại một số bạn bè trong đó có anh Việt Phương. Dù mỗi người một thân phận khác nhưng bạn bè vẫn quý mến nhau và anh tôi khen tài anh lắm. Giới học sinh sinh viên Hà Nội lứa tôi, vào những năm 1950-1960 rất ái mộ anh Trần Việt Phương với cách nói chuyện rất hấp dẫn. Ngừơi nghe cứ dỏng tai lên nuốt từng lời. Sau này nghĩ lại đó là thời vàng son của những người làm chính trị. Điều mơ ước đánh đuổi được giặc ngoại xâm xóa nỗi nhục là dân nô lệ, đòi lại chủ quyền đất nước tuy chưa thắng lợi hoàn toàn nhưng niềm tin là chắc chắn. Cái xấu thấp thoáng chưa dám lộ hình. Cái hay còn ở tương lai dù là nó mơ hồ nhưng đầy mới lạ. Cuối thập kỷ 1960, chiến tranh càng ác liệt, những cái xấu bộc lộ ra càng rõ. Thơ “Cửa mở” của anh gãi đúng vào chỗ ngứa. Cũng chỉ anh mới dám hé cánh cửa quan ra vì anh biết quá nhiều và chỉ lộ ra một phần sự thật. Vì là người “vua biết mặt chúa biết tên” nên anh chẳng phải chịu hình phạt gì ghê gớm. Nhưng tất nhiên là anh không còn được tin tưởng nữa, chỉ còn cái chức danh là chuyên viên cao cấp, đi làm vẫn có xe đưa đón đàng hoàng. Nếu các ông lớn không có việc gì cần đến thì anh được giao việc nhào luyện cho ra lò đám chính khách đàn em! Nghe nói anh vẫn làm thơ nhưng giữ lưu trong tủ, lâu lâu tung ra vài bài vô thưởng vô phạt bóng gió xa xôi. Người ta vẫn tin vào cốt cách của anh được tôi luyện ở cái lò đặc biệt. Bỗng dưng thấy tên anh xuất hiện ngày một nhiều ở những sự kiện gọi là nóng bỏng. Không hiểu người ta lợi dụng tên anh hay là anh thấy đã đến lúc phải cất lên tiếng nói. Anh tôi giờ đã già, chẳng có thần thế gì nên con cái cũng làng nhàng, cuộc sống vẫn phải bon chen bương chải, thông tin chỉ biết qua TV hoặc dăm tờ báo, lâu lâu nghe con thuật lại mấy tin trên mạng. Có nhắc tới anh thì anh tôi chỉ nói một câu vô nghĩa: “À, thằng Lý Việt Phương!” rồi lắc đầu lảng chuyện. Tôi cứ tưởng ông anh đã lẫn. Già rồi ai chẳng lẫn ít nhiều. Nhưng thực ra là anh tôi chưa lú, bởi có lần ông anh buột miệng bảo con: “Chọn mặt gửi vàng con ơi! Sao lại tin những thằng như Lý Tống? Như thằng Lý Đình Lộc “vừa ấy vừa run” còn bày trò gì nữa?”. Tôi chợt hiểu ra anh tôi vẫn tỉnh. Tự dưng tôi thấy thương quá người anh tội nghiệp, cuộc đời dở dang giữa đường đứt gánh mà vẫn nặng nghĩa nặng tình...


Một người không quen không biết tôi và tôi cũng chỉ biết danh anh trên lĩnh vực văn chương mà lúc nào cũng “lòng riêng riêng những kính yêu” là nhà văn Nguyên Ngọc, được biết chính danh anh là Báu. Thuở ấy, mấy đứa học sinh Hà Nội chúng tôi thật tâm yêu Đảng, yêu Bác Hồ, yêu miền Nam, cảm phục các anh bộ đội lắm, như là hiện thân của lòng yêu nước. Trước đây chúng tôi cứ nghĩ Tây Nguyên là vùng rừng xanh mênh mông, núi đỏ bạt ngàn hiểm trở lắm, chỉ có khỉ ho cò gáy, quanh năm nắng gió không khác gì xứ Châu Phi xích đạo xa lạ và bệnh tật với “mọi cà răng căng tai” đầy bí hiểm… Qua “Đất nước đứng lên” chúng tôi thấy yêu Tây Nguyên quá, càng yêu những người con Tây Nguyên chất phác thật thà, hiền hậu mà gan góc, thủy chung, son sắt… Chúng tôi rủ nhau vào Trường Dân tộc ở Thanh Xuân, xin bằng được thầy Hiệu trưởng Hoàng Đạo Thúy cho gặp anh hùng Đinh Núp bằng xương bằng thịt… Lớn lên, vào bộ đội, hành quân trên đường Trường Sơn, qua Tây Nguyên nắng cháy với những rừng khộp, rừng le, đây đó những cây cầy (kơnia) cao vút, dừng chân phút chốc trước những pho tượng gỗ đơn sơ bên ngôi nhà mồ hoang vắng, nghe tiếng cồng từ đâu đó vọng lại trong bóng chiều chạng vạng, thấp thoáng những bóng người đàn ông, đàn bà ở trần, cái gùi đè nặng trên tấm lưng còng bước đi vội vã lẫn nhanh vào cánh rừng đang dần tối, thương quá là thương. Lại nghe nhà văn Nguyên Ngọc đã trở về đây với bút danh Nguyễn Trung Thành mà ước gì được như anh. Sau hòa bình, giá như tổ chức xếp anh ở vị trí như nhà thơ Giang Nam thì biết đâu anh cũng được cái gì đó cho riêng mình và viết thêm được vài tập truyện ngắn truyện dài ở cái kho tàng huyền thoại ấy mà không có nhà văn nào may mắn được như anh, sẽ chẳng đến nỗi bị viếng sống đôi câu đối: “Trưởng ban sáng tác không sáng tác / Ngọc chẳng còn nguyên báu nỗi gì”!


Cái nghề quản lý văn nghệ nó bất nhẫn khôn lường lắm. Con người thì bất nhất mà văn chương là cái thứ để làm đồ chơi cũng được mà để làm đồ thờ cũng tốt, hay dở vô chừng. Không ít người tài đã sống dở chết dở ngồi trên cái ghế ấy rồi. Anh lại chưa phải là tay “nài” giỏi để chăn dắt bầy ngựa bất kham, lại thêm cái đặc tính di truyền người “Quảng Nam hay cãi” nên khó được ai ưa. Bỗng thành người vô dụng, từ bất bình anh sinh bất mãn. Dựa vào ít vốn liếng văn chương và thành tích kháng chiến, anh “ngang cành bứa”. Có người nói bởi huyễn hoặc được gắn cho cái nhãn“nhà văn hóa” nên anh bị “quáng gà” và “nói bừa phụt bậy”! Những câu liệt vào loại “ranh ngôn” của anh thì nhiều nhưng tôi xem một bài viết anh kể chuyện có một người bà con theo kháng chiến, bị lũ tay sai của giặc bắt, dùng cây đũa tre vót nhọn đóng thẳng vào tim mà mỗi lần nghĩ tới tôi không thở được trong khi xem ra thái độ anh rất dửng dưng nên mới có những lời phát ngôn gần như là tráo trở. Thậm chí anh còn ví giành được mảnh đất cỏn con mà đổi bao nhiêu sinh mạng thì thắng lợi cái nỗi gì?!


Nhân đây tôi sưu tra một dẫn chứng lịch sử để các bạn trẻ ít có thời gian tra cứu biết thêm. Cuộc chiến tranh hợp nhất lại Liên bang của nước Mỹ diễn ra trong 4 năm (1861-1865) giữa 23 bang phía Bắc có số dân 22 triệu người chống lại 11 bang phía Nam có số dân 9 triệu người. Tương quan lực lượng chênh lệch không nhiều và các phương tiện chiến tranh lúc đó tầm sát thương có hạn mà có tới 550.000 quân nhân chết trận (300.000 người phía Bắc và 250.000 người phía Nam). Trong khi cuộc chiến tranh giải phóng tổ quốc của nhân dân ta liên tục 30 năm, một nước nhỏ nghèo nàn lạc hậu, vũ khí lúc đầu là tầm vông giáo mác chống lại hai cường quốc hết Pháp đến Mỹ, có vũ khí tối tân hiện đại hàng đầu thế giới mà họ lại chủ trương chiến tranh hủy diệt! Tất nhiên con số thương vong về phía chúng ta không thể tính chính xác được và cũng không thể phân biệt rõ được số thường dân với số quân nhân. Xin để bạn đọc tự mình suy luận. Anh Nguyên Ngọc ơi, nhà trí thức lớn rất nổi danh mà giới trí thức cả nước đều kính phục là Giáo sư Bác sỹ Hồ Đắc Di. Như một nhà hiền triết Cụ nói những câu rất dí dỏm mà thâm sâu lắm: “Trời cho ta đôi hàm răng và cái lưỡi để tự chôn mình!”. Có người chết vì răng, người chết vì lưỡi anh à!


 Đài 2


Một “chiến sỹ dân chủ” rất trẻ là Phương Uyên. Hơn một lần tôi nghe cô ta nói trên các mạng, đài. Khẩu khí lắm, tự tin lắm, kiên cường lắm. Sự đúng sai trong những quan điểm xã hội không thể nhìn vào tuổi tác càng không thể đem áp đặt cho ai. Tuy nhiên điều không cần bàn cãi đã là công dân phải tôn trọng luật pháp của quốc gia nơi mình cư ngụ huống chi là tổ quốc của mình. Theo cáo trạng thì cô ta tung truyền đơn phản kháng trong đó lẫn cả cờ vàng ba sọc đỏ. Có không? Chống bành trướng mà lại trương lên lá “cờ te tua” đó để làm gì? Nhân đây tôi giới thiệu với cháu và bạn đọc về nguồn gốc xuất xứ của lá cờ ba sọc sau khi đã tham khảo Hồi ký của Thiếu tướng QLVNCH Đỗ Mậu, người vào hàng khai quốc công thần của cái gọi là chính thể quốc gia, Hồi ký của nhà cách mạng Trần Văn Giàu, đặc biệt là đọc Hồi ký và được diện kiến hỏi chuyện vị Thiếu tướng QĐNDVN Mai Xuân Tần, sinh năm 1923, quê Hà Nội mà lớn lên ở Huế, học trường Quốc học, tốt nghiệp Tú tài toán, tham gia ngay từ đầu những ngày tháng Tám ở Huế và là chứng nhân của nhiều sự kiện khởi đầu từ “Trường võ bị thanh niên tiền tuyến” đến ngày kết thúc cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới ở phía Tây-Nam.


Trước cách mạng tháng Tám 1945, không kể những lá cờ đạo, nước ta chỉ có một màu cờ tam tài của Pháp. Riêng ở Trung Kỳ gọi là xứ tự trị, triều đình An Nam được lấy biểu trưng là lá cờ “quẻ ly” (tượng trưng cho lửa, ý chỉ sự sáng suốt của bậc minh quân). Lá cờ ấy nền vàng có ba sọc đỏ mà sọc giữa thì đứt ra làm hai khúc như hình “quẻ ly” trong bát quái càn khôn theo Kinh Dịch. Vào thời điểm Thế chiến Hai sắp kết thúc, phát xít Nhật lâm vào thế cùng, trong không khí chuẩn bị khởi nghĩa rất sôi nổi trên cả nước, những trí thức yêu nước ở Sài Gòn dưới sự chỉ đạo của xứ ủy Nam Kỳ như Phạm Ngọc Thạch, Lê Văn Huấn, Thái Văn Lung, Huỳnh Tấn Phát, Huỳnh Văn Tiểng… lập ra “Thanh niên Tiền phong” với biểu trưng là lá cờ vàng sao đỏ thì ở Huế mở “Trường võ bị Thanh niên tiền tuyến” do các ông Phan Anh, Tạ Quang Bửu, Phan Tử Lăng sáng lập ra. Sau này mở rộng thành tổ chức “Thanh niên tiền tuyến”, lấy biểu trưng là cờ vàng có ba sọc đỏ liền, giống“quẻ Kiền” tượng trưng cho người quân tử. Sau gần ba năm phát động chiến tranh tái xâm lược Việt Nam, chủ trương “đánh nhanh thắng nhanh” thất bại, thực dân Pháp đổi sang chiến lược“đánh lâu dài” nghĩa là phải “dùng người Việt đánh người Việt” nên nặn ra cái gọi là “Hiệp định Hạ Long”, dựng phế đế Bảo Đại phản bội lên làm Quốc trưởng.


Cái “chính phủ Việt Nam thống nhất lâm thời” đầu tiên thật nhố nhăng: Nguyễn Văn Xuân vào làng tây, lấy vợ đầm, không biết nói tiếng Việt, đang là Trung tá quân đội Pháp được phong vọt lên Thiếu tướng để kịp ngồi lên cái ghế Thủ tướng! Ông Thủ tướng tây mũi tẹt da vàng này chọn ngay một ông tây mắt xanh mũi lõ chính hiệu làm Đổng lý văn phòng! Trong việc chọn biểu tượng quốc gia, đám lính quân sư bí kế xúi ông Thủ tướng dùng ngay lá cờ “quẻ Kiền” gợi nhớ tới “quẻ Ly” và tán dóc rằng nó tượng trưng cho dòng máu của người dân ba xứ Bắc-Trung-Nam. Trong đám quân sư có một cha tuyên úy nhạy cảm gợi tưởng ngay tới “ba ngôi” trong kinh Thánh! Chưa hết, họ còn xúi ông Thủ tướng vong quốc bỏ đi bài quốc ca của “chính phủ Nam kỳ” phổ thơ Chinh phụ ngâm nghe ai oán não nề bằng bài ca Thanh niên hành khúc nghe hùng hồn khí thế. Mỉa mai thay bài ca ấy từng vang lên từ hồi tiền khởi nghĩa tháng Tám, khơi dậy lòng yêu nước của thanh niên và tác giả của nó là nhạc sỹ Lưu Hữu Phước cùng với luật sư Phan Anh, giáo sư Tạ Quang Bửu đang trong hàng ngũ những người hăng hái tham gia kháng chiến! Đấy là tiền triệu tối đen cho cái“quốc gia” khởi đầu từ quốc kỳ đến quốc ca và cả chính danh đều ngụy. Nhân dân ta gọi đó là cờ “ba que” rất đúng như bản chất của những người chủ xướng. Suốt mấy mươi năm trên đất nước này, lá cờ đó luôn đi sau lá cờ tam tài và lá cờ chi chít những sao dày xéo tổ quốc ta, tàn sát nhân dân và nó đã chìm sâu dưới đáy dòng sông lịch sử non nửa thế kỷ nay rồi.


 hot-gil-chong-pha-nha-nuoc


Người có học và trọng liêm sỷ đều hiểu rằng cả về lý lẫn tình, lá cờ ấy không được phép tái hiện trên tổ quốc ta bởi nó xúc phạm tới anh linh của bao nhiêu thế hệ đã hy sinh giữ gìn vẹn toàn non sông tổ quốc Việt Nam. Cho nên nếu cháu Phương Uyên có làm việc ấy thì nhà trường đuổi học là rất đúng. Khi nào cháu nhận ra điều sai và chịu sửa thì cánh cửa nhà trường lại rộng mở đón cháu vào học bình đẳng với các bạn bè. Điều đáng trách và đáng xấu hổ là nhiều bậc cha bác nhân danh này nọ lại dẫn cháu tới trường bắt bẻ những người thầy có trách nhiệm dạy bảo học trò thành những công dân chân chính, để cháu càng tin là mình đúng. Tưởng rằng họ bảo vệ cháu nhưng thực ra từ những việc làm đó càng làm cho cháu khó nhận chân sự thật, càng hại thêm cho cháu! Được biết trong số những “chiến sỹ dân chủ” này có không ít người từng một thời đứng trong hàng ngũ những người kháng chiến. Thực ra chẳng có gì là lớn lao vì suy cho cùng trong hoàn cảnh đất nước lúc ấy mỗi người dân phải làm tròn trách nhiệm của mình thôi. Hãy nhớ lại trong những năm chiến đấu gian khổ khó khăn, tất nhiên ta phải dựa vào sự giúp đỡ của bầu bạn khắp năm châu và đối phương ra rả tung tin ta là tay sai của Nga Xô và Trung Cộng. Đến khi Liên Xô tan vỡ thì ta vẫn là ta, cái tiếng tay sai Nga Xô cũng hết. Và khi Trung Quốc giở mặt đánh ta, ta cũng trả miếng đuổi họ về bên kia biên giới và cái tiếng tay sai Trung Cộng lộ rõ mặt những ai. Đành rằng chúng ta phải đề cao cảnh giác và cảnh báo kịp thời. Nhưng thời điểm hiện nay bạn thù, địch ta lẫn lộn thật khó phân minh. Lại càng phải bình tĩnh và tỉnh táo.


Lứa tuổi U70 đều nhớ ít nhiều thơ ngụ ngôn của La Fontaine. Tôi tâm đắc bài thơ “Sư tử mê gái” (Le lion amoureux) lắm. Thơ kể rằng từ thuở muôn loài đều biết nói. Người vật giao hòa. Một hôm mãnh sư quí phái xuống đồng chơi, gặp cô gái chăn chiên đẹp quá sư ta muốn hỏi nàng làm vợ. Ông bố vào thế kẹt, chối sợ chẳng yên thân mà ừ thì lo cho phận thuyền quyên vào tay kẻ dữ. Ông nghĩ cách khéo để từ hôn: gạ sư gọt xén cái vuốt đi kẻo lúc âu yếm vuốt ve phận đào tơ liễu yếu không chịu nổi. Rồi mài giũa luôn bộ răng nanh đi kẻo lúc ái ân nồng nàn sẽ làm khổ vợ. Mê vì sắc, đắm vì tình, si quá hết khôn, sư thuận lòng ngay. Kết cục là “Mất hết cả vuốt nanh / Như lũy thành phá đổ / Người thả vài con chó / Sư đành chịu chết thôi”! Ngụ ngôn có giá trị vượt thời gian, thời nào cũng đúng nếu biết lồng vào. Với người cách mạng, sức mạnh vô địch của họ là lòng yêu tổ quốc và gắn bó với nhân dân. Đó là nanh là vuốt. Một khi nanh mòn vẹt, vuốt lụt cùn thì còn gì để trọng? Xem tấm gương Bùi Tín đã qua và Lê Hiếu Đằng trước mắt!


© Nguyễn Văn Thịnh (donglasg.blogspot.com)


Tuần báo Văn nghệ TPHCM


Số 285 Thứ năm ngày 26/12 2013

Thứ Tư, 29 tháng 1, 2014

KHI SỰ THẬT ĐƯỢC KHÁCH QUAN....

Giải quyết tranh chấp cần đến vai trò của người thứ ba chính là cơ chế hình thành Quan tòa trong mọi thể chế nhà nước. Điều này xuất phát từ sự khách quan cũng như sự công minh, hiểu biết trong quá trình phân xử và đi đến phán quyết cuối cùng. 

 

Lâu nay, xung quanh những hành động, phát ngôn của các chính khách Đảng Cứu nguy Dân tộc Campuchia (CNRP) do Sam Rainsy và Kem Sokha lãnh đạo và điều hành đã tốn không ít giấy mực của giới truyền thông và những phát ngôn chính thức từ hai nhà nước. Dù là đại diện của Campuchia hay Việt Nam thì đều chung một tiếng nói phản bác và lên án những hành động coi thường pháp luật, bất chấp đạo lý của hai kẻ vấy bẩn lên quan hệ truyền thống bấy lâu nay giữa hai nhà nước, hai dân tộc. Tuy nhiên, nhiều người cho như vậy chưa đảm bảo được tính khách quan và đó cũng là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác truyền thông trong góp phần giải quyết những căng thẳng trên chính trường Campuchia hiện nay và minh oan cho Quân đội, dân tộc Việt Nam. Và mọi chuyện đã thực sự được công minh, khách quan nhất khi truyền thông của nước thứ ba vào cuộc. Tất nhiên, nội dung của sự vào cuộc này chính là định lượng quyết định mọi vấn đề liên quan. 


Những cuộc đụng độ, biểu tình chống Việt Nam do phe đối lập dàn dựng và kích động.

Trên kênh truyền hình  Al Jazeera - đài truyền hình lớn ở khu vực Trung Đông "vừa phát một phóng sự vạch trần khía cạnh đen tối trong các cuộc biểu tình do phe đối lập tổ chức tại Campuchia: Khẩu hiệu và hành vi bạo động kỳ thị người Việt Nam". Trong phóng sự vừa được phát sóng, Đài Al Jazeera cho biết: 'Sam Rainsy từ lâu đã sử dụng luận điệu vu cáo Việt Nam chiếm đất Campuchia, một quan điểm bị nhiều người cho rằng cố chấp đáng ngại. Sam Rainsy luôn khẳng định không kích động bạo lực nhắm vào người Việt Nam sinh sống ở Campuchia, nhưng những phát biểu của ông ta trong suốt hai chục năm làm chính trị vừa qua thường bao gồm những luận điểm gay gắt chống lại Việt kiều, kèm theo những lời hứa là những người này sẽ bị đuổi khỏi Campuchia."


Rõ ràng, phóng sự đã đi sâu vào thế giới ngầm để lột rõ những câu chuyện liên quan đến tình cảnh bi đát không chỉ riêng của những "nạn nhân" người Việt mà cả những người Campuchia. Họ đã thất thoát về kinh tế, thiệt hại về vật chất, thậm chí còn chịu không ít sự đày ải về tinh thần; sống trong vòng luẩn quẩn về sự thù hận mà chính họ không biết nguyên nhân bắt đầu từ đâu. Họ chỉ biết rằng, sự xuất hiện của Đảng Cứu nguy Dân tộc Campuchia (CNRP) đã làm đảo lộn hoàn toàn cuộc sống của họ. Họ đã phải nhẫn tâm, lạnh lùng đấu tố, tẩy chay những công dân Việt mà họ từng gắn bó, chung sống như những người đồng bào, bà con dù rằng họ không hề muốn điều đó diễn ra. Chưa kể, họ còn buộc phải cầm những công cụ, vũ khí để tấn công xua đuổi những người dân gốc Việt.


Ở đó, họ còn chứng kiến sự bất nhất, lật lọng từ chính "lãnh tụ" Sam Rainsy. Ông này một mặt tuyên bố lên án những cảnh tượng bạo lực nhưng bên trong ông phớt lờ mọi động thái hòa dịu, ngăn chặn những hành vi quá khích....Thậm chí, con người này còn nhiều lần lên tiếng cổ vũ cho các hành động cực đoan, quá khích....Tất cả đã được phóng sự nói trên lột trần và phản ánh một cách chân thực nhất.


Tôi xin nhấn mạnh rằng, Đài Al Jazeera là Đài truyền hình lớn nhất khu vực Trung Đông; từng tham gia rất nhiều loạt phóng sự làm rõ những uẩn khúc, những mưu đồ đen tối tại khu vực Trung Đông cả trong quá khứ và hiện tại. Chính vì vậy, việc phản ánh của nó như một sự lên tiếng đủ sức thuyết phục người khác. Đó chính là bằng chứng sống, sự lên tiếng công bình nhất để thế giới nói chung thấy được bộ mặt thật của chính đảng này và nhất là thấy được sự tráo trở, cơ hội của những kẻ như Sam Rainsy và Kem Sokha...

An Chiến

 

Thứ Ba, 28 tháng 1, 2014

KIẾM KẾ MƯU SINH TRONG NHỮNG NGÀY CUỐI NĂM

Với ý nghĩ nếu muốn hiểu hết câu chuyện thì không gì bằng tìm những chủ thể của câu chuyện bởi thông qua họ chúng ta sẽ phần nào hiểu được chuyện gì đang xảy ra. Tôi đã tiếp cận với những người "ăn năm, ngủ tháng" tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng, cạnh Nhà tiếp dân của Trung ương Đảng để lí giải lí do họ đến đây và dùng dằng cho dù tết Nguyên Đán đang cần kề. Nhìn bên ngoài, tưởng chừng như những con người ngồi đây vô tư đến nỗi họ chấp nhận bỏ qua những phút giây đoàn tụ cùng gia đình để đấu tranh cho "công lý và hòa bình", song tìm hiểu kỹ hóa ra không phải. Họ đến và bám trụ chẳng qua cũng chỉ vì cơm áo, gạo tiền và những lời hứa của những kẻ đã chót gieo vào họ niềm tin phía trước....


Tôi vào vai cũng là một người dân đến với mục đích khiếu nại và tố cáo như họ. Ban đầu khi tiếp chuyện tôi, nhiều người trong họ có thái độ dè dặt, họ ngại nói về họ và hành động của họ những ngày qua...dường như họ đã được trang bị rất cao về ý thức cảnh giác với sự tiếp cận từ bên ngoài....Với thái độ kiên nhẫn và chưa chịu bỏ cuộc, tôi đã nhẫn nãi tiếp xúc cho dù chịu không ít sự xua đuổi từ phía những con người này; sau một ngày ở cùng, họ bắt đầu tin tôi và tất nhiên những câu chuyện "thâm cung bí sử" cũng vì vậy được tiết lộ....


Nhiều người trong họ đã dãi bày tâm tư nhớ gia đình, muốn được về chung vui, đoàn tụ cùng gia đình, không muốn ở những nơi màn trời chiếu đất; ăn uống thất thường. Nhiều người trong số họ đã không dấu được cảm xúc trong những ngày cuối năm, vào giờ này những thời khắc năm ngoái họ đã được chung vui bên những mâm cơm ngày cuối năm, được quây quần bên gia đình với nồi bánh chưng "to tướng"....nhưng hiện tại không khí vui tươi, đầm ấm và an lành đó đã rơi vào dĩ vãng và tình cảnh mà họ chịu đựng ở đây không hề dễ chịu chút nào. Họ cứ giật giờ như những bóng ma xung quanh con phố này khiến nhiều người sinh sống xung quanh không hiểu được những người lạ mặt này đến đây làm gì.....


Và cái gì đến cũng sẽ đến khi mà mọi rào cản về không gian và tình cảm bị xóa nhòa thì mọi chuyện đều có thể. Họ đã không ngần ngại tâm sự về lí do bám trụ trong những ngày cận kề tết Nguyên Đán này. Trong vô vàn những lí do họ nêu lên, điểm nhấn chính là những lời hứa đến từ những "kẻ chủ chòm". Những kẻ này này đã gieo vào họ lời hứa về những viễn cảnh tốt đẹp nếu họ bám trụ đến cùng. Ở đó, họ không chỉ tìm được công lý, họ sẽ có thêm tiền để trang trải cuộc sống sau này....Với những lí do trên cũng đủ thu phục những con người đã sống quá lâu trong nghèo khó như họ.


Đến đây, tôi hơi băn khoăn bởi, vị thế của chủ nhân những lời hứa kia là ai, họ có những thứ quyền năng ghê gớm gì mà có thể "vạn năng" như thế? Phải chăng họ là một nhân vật "cỡ bự" đến từ phía chính quyền....Nhưng không, họ không là ai cả, họ chỉ là những con người bình không tước vị...thử hỏi như thế thì họ có thể giải quyết gì được giúp những con người bình thường ấy? Vả lại tiền họ lấy đâu ra? Những câu hỏi mà họ không thể lí giải nổi!

Đáng thương cho những con người không biết mình bị lợi dụng!/.
An Chiến


 

Làm quái gì có cái thứ gọi là "tù nhân lương tâm" ở Việt Nam

Đã là tù nhân tức là những cá nhân đã có những hành động, việc làm vi phạm nghiêm trọng quy phạm pháp luật Việt Nam và bị cơ quan công quyền Việt Nam bắt giữ, điều tra, xét xử và tuyên án theo đúng quy định của luật pháp. Thế nên cái gọi là "tù nhân lương tâm" chỉ là cái hão từ để bè lũ rận chủ nâng tâm những kẻ tâm thần chính trị lên một tầm cao mới.


Thế nên sự việc Ủy Ban Nhân Quyền Tom Lantos trong Quốc Hội Hoa Kỳ vừa tổ chức điều trần về cái gọi là “tù nhân lương tâm thế giới” trong đó có Việt Nam. Có thể nói đây là một việc làm vô bổ đến mức  "rảnh rỗi sinh nông nổi" của một tổ chức mang tâm quốc tế, đây cũng chính là diễn đàn để bọn dân chủ ba láp, mất nết xuyên tạc những vấn đề liên quan đến nhân quyền của Việt Nam.


Vấn đề ở đây mà công luận đặt ra là đối với một nước như Mỹ, những vấn đề vi phạm nhân quyền quốc tế đầy rẫy, Mỹ chính là cái nôi gieo rắc chiến tranh cho toàn nhân loại, quân đội Mỹ được trang bị đến tận răng, nhưng trong quá khứ và hiện tại luôn có những hành động và việc làm phi nhân tính khi tàn sát những người dân vô tội rồi vu cho đó là việt cộng, là quân khủng bố, là nỗi đe dọa đến hòa bình nước Mỹ???

Thế nên Việc nước Mỹ tổ chức phiên điều trần về tù nhân lương tâm là việc làm đáng lên án, vì những bê bối về vấn đề nhân quyền như do thám tình báo xâm hại đời tư cá nhân công dân, các nhà tù bí mật với những màn hành hạ tù nhân thời Trung Cổ, nạn khủng bố đeo đẳng đe dọa tính mạng, tài sản của người dân… thì Mỹ không giải quyết, lại bày ra cái trò điều trần về “tù nhân lương tâm” này, đúng là không hiểu nổi nhà cầm quyền Mỹ đang nghĩ gì.

 Việc Việt Nam đã là thành viên chính thức của Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc hình như các quan chức Mỹ không hề hay biết hoặc cố tình lãng tránh để rồi tổ chức nên cái gọi là "tù nhân lương tâm". Thế nào để được gọi là tù nhân lương tâm? Hay nói trắng phớ ra chính là những kẻ băng hoại về đạo đức, vi phạm các quy định về sử dụng internet phát tán những tài liệu chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam và Chế độ XHCN? Những anh hùng bàn phím, chẳng có tí kiến thức đếch gì về Việt Nam nhưng dám tuyên bố này nọ về nhân quyền Việt Nam, nói ngược cũng xong, nói xuôi cũng lọt? Vậy có gì để đáng gọi là tù nhân lương tâm? Theo tác giả gọi là "Phiên điều trân của những tù nhân tâm thần chính trị" thì nghe hợp lý hơn.


 Bên cạnh đó, một bà mẹ vì thương con đã biến thành một bà mẹ dân chủ, khi bà Trần Thị Ngọc Minh, mẹ của đứa con tội lội Đỗ Thị Minh Hạnh đã sang đất Hoa Kỳ tham gia cái gọi là phiên điều trần về cái gọi là “tù nhân lương tâm” Việt Nam và đã có nhiều phát biểu sai trái đáng lên án. Bà ta cho rằng nhà nước Việt Nam đang giam giữ, đánh đập nhiều “tù nhân lương tâm” trong đó có con gái bà Đỗ Thị Minh Hạnh cùng hai người bạn là Đoàn Huy ChươngNguyễn Hoàng Quốc Hùng. Theo bà con gái bà và hai người này không phạm tội nhưng lại bị Nhà nước Việt Nam giam cầm. có thể nói, làm mẹ ai cũng thương con, nhưng thương con như thế này thì đúng là không thể chấp nhận được, từ một người nông dân lam lũ, được giới rận chủ rửa mắt bằng USD, bà Minh đã biến thành một nhà đấu tranh cho dân chủ và phát ngôn những luận điệu mang tính chất xuyên tạc, bội nhọ nhà nước Việt Nam, vu cáo tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Thật đáng thương thay cho bà Minh khi bị bè lũ dân chủ lợi dụng để rồi con gái vào tù, và bản thân bà thì chuẩn bị tiếp bước con gái?


Mẹ của nhà dân chủ Đỗ Thị Minh Hạnh


 Bà đã cố tình quên đi rằng con bà cùng hai người bạn đã nghe theo sự lôi kéo của Trần Ngọc Thành cầm đầu tổ chức “ủy ban bảo vệ người lao động Việt Nam”, một tổ chức phản động ở nước ngoài. Chính Trần Ngọc Thành đã tổ chức đưa Hùng, Hạnh sang Malaysia đào tạo, huấn luyện, rồi từ ngày 28/1 đến ngày 9/2/2010, Trần Ngọc Thành đã chỉ đạo Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương thực hiện các vụ kích động biểu tình, rải truyền đơn ở Trà Vinh, Đồng Nai, TP HCM, nội dung kêu gọi người dân chống lại Đảng, Nhà nước, kêu gọi “đấu tranh để đòi dân chủ”, lợi dụng các vấn đề còn thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân ở một số khu công nghiệp để tổ chức tuyên truyền, kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp. Với những hành vi vi phạm pháp luật như thế, cả 3 đã bị tòa án xét xử với tội danh “Phá rối an ninh”. Là công dân họ vi phạm pháp luật nên đương nhiên phải chịu sự chế tài của pháp luật. Họ không có oan khuất gì để bà phải kêu oan.Trước vành móng ngựa cả 3 người cũng đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

 Thế cho nên mới thật nực cười khi bày ra cái gọi là phiên điều trần về tù nhân lương tâm? Làm quái gì có cái thứ gọi là tù nhân lương tâm ở Việt Nam? xin nhắc lại lần nữa cho các nhà dân chủ trong và ngoài nước sáng mắt, đừng dùng những từ ngữ mị dân và mất dạy để đề cao bè lũ bán nước.

Trần Ái Quốc


Thứ Hai, 27 tháng 1, 2014

TQ GÂY HẤN VỚI MALAIXIA: "TUNG CẦU ĐO GIÓ"

Một TQ hành động không có điểm dừng trong quan hệ đối ngoại song phương với hàng loạt quốc gia có cùng tranh chấp và liên quan là điều nằm ngoại mong đợi của những nạn nhân đằng sau hành động "bẩn" của cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới này. 

 

Trong những cuộc "gây hấn đối ngoại" này, Việt Nam thuộc danh sách các quốc gia hàng đầu bởi mối quan hệ láng giềng và cũng là quốc gia có những động thái kiên quyết nhất trong việc giành lại quyền chủ quyền trên Biển Đông của mình. Và tất nhiên, với Việt Nam mối quan hệ  này xấu đi không chỉ có ngày một, ngày hai..., nó đã diễn ra cả quá trình và cho đến nay, dù TQ luôn lớn tiếng tuyên bố mình đạt được cái này, cái nọ trên Biển Đông nhưng thực chất đó là hành động võ mồm của đất nước này. Một thế cân bằng và việc đem vấn đề Biển Đông ra công luận quốc tế và thu hút nhiều nước, tổ chức cùng tham gia có thể xem là thắng lợi ngoạn mục của Việt Nam trong việc đối phó và bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông của mình. 


Bình minh trên Biển Đông.

Philippin là nước có những động thái quyết liệt sau Việt Nam, Bộ Ngoại giao nước này từng tuyên bố sẽ khởi kiện TQ ra Tòa án quốc tế để phân xử quyền chủ quyền và quyền tài phán của họ trên một số khu vực đang tranh chấp hoặc bị TQ chiếm từ lâu. Và quốc gia thứ ba chính là Malaysia, một quốc gia có vị trí địa lý xa nhất so với Việt Nam và Philippin. Việc "Trung Quốc gây chuyện với Malaysia ở biển Đông" không chỉ nói lên dã tâm bất chấp mọi giới hạn về không gian địa lý của TQ mà dường như TQ đang thực hiện hành động "thả cầu đo gió" quen thuộc bởi chính những động thái của Malaysia là một tiền đề vững chắc hàng đầu để phía TQ có thêm cơ sở thực hiện các hàng động tiếp theo. Tất nhiên, với một quốc gia giàu dã tâm, mưu đồ như TQ chính là việc án binh bất động của Malaixia và họ nghiễm nhiên xem động thái đó như một sự "đồng tình" nên có của quốc gia này và chắc chắn họ lại củng cố thêm quyết định tiến thêm trong vấn đề Biển Đông...Lần này, nếu họ nhận được nhận được tín hiệu tích cực từ Malaixia thì không chỉ là tuyên bố miệng mà họ còn tiến xa hơn trong vấn đề Biển Đông chăng? 

 

Song, phía TQ không hiểu được rằng, đối với mọi quốc gia dù mạnh, yếu đến đâu thì họ đều có ý thức về chủ quyền, lãnh thổ và luôn nêu cao ý thức giữ gìn và bảo vệ. Những hành động "Ba tàu Trung Quốc, gồm 1 tàu đổ bộ và 2 tàu khu trục, đã tuần tra bãi cạn James ở biển Đông - khu vực mà Malaysia cũng tuyên bố chủ quyền - hôm 26-1." không chỉ động chạm đến phạm trù "ý thức nói trên đó của những người Malaixia nói chung. Đặc biệt, khi đây là địa điểm vào "Tháng 3-2013, Malaysia từng phản đối 4 tàu Trung Quốc xâm nhập James. Các thủy thủ Trung Quốc đã bắn chỉ thiên khi ghé vào bãi cạn này." 

Chúng ta cùng chờ đợi động thái tích cực từ Malaixia để TQ biết đâu là điểm dừng, biết thế nào là sự đồng tâm, hiệp lực của những quốc gia cùng khu vực./. 
An Chiến

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014

HÃY ĐỪNG LÀM THAY KHI CHƯA ĐƯỢC PHÉP

Trước vành móng ngựa của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, 17 đối tượng trong vụ án "Hồ Đức Hòa và đồng bọn" phạm tội "Hoạt động nhằm lật đổ Chính quyền nhân dân đã khai và nhận tội danh của mình. Đặc biệt, có người trong số họ đã xin nhận được lượng khoan hồng từ nhà nước và pháp luật. Tưởng rằng, đến đây mọi chuyện đã khép lại với những con người này và tin tưởng với thái độ đã có tại phiên tòa họ sẽ có cho mình cách ứng xử phù hợp nhất khi ra tù, hoàn lương. Trước khi chờ đợi những thời khắc đặc biệt ấy, họ chính là đối tượng "tế thần" trong những trò lụn bại của giới "dân chủ" trong nước và hải ngoại. Hình ảnh của họ được xuất hiện khắp mọi nơi từ chính giới những nước Châu Âu, Châu Mỹ đến diễn đàn Liên Hợp Quốc...như những kẻ chịu nhiều oan khuất cần được "gội rửa". Người thân của họ cũng được kéo vào cuộc như những người "đại diện tinh thần" lúc họ gặp khó khăn, nguy khốn! Nhưng, tất cả cũng chỉ là những trò hề được ngụy trang không kém phần kín đáo và dụng công!



Phiên tòa xét xử 17 thanh niên theo đạo Công giáo và Tin lành tại Tòa án nhân dân Nghệ An.

Với những gì đã, đang và sẽ còn diễn ra, họ trở thành những "nạn nhân" bất đắc dĩ trong những trò kiện cáo ầm ĩ bấy lâu qua. Để biện hộ và thanh minh cho tội danh của 17 đối tượng này, họ đã viện dẫn những nội dung xung quanh tình tiết: "Việc hợp tác với Đảng Việt Tân là lý do để bắt, xử lý các đối tượng này" như:"LHQ nêu lên mâu thuẫn của Hà Nội: một mặt Hà Nội cho rằng đảng Việt Tân là một tổ chức khủng bố, mặt khác thì Hà Nội nói rằng các nhà hoạt động này đã từng tham dự và hợp tác với Việt Tân qua các khóa huấn luyện đấu tranh bất bạo động để cổ xúy dân chủ tại Việt Nam. Việc được huấn luyện về phương thức đấu tranh bất bạo động và hợp tác với đảng Việt Tân để mang lại thay đổi là một việc làm ôn hòa, mà LHQ cho rằng không thể nào là lý do để bắt người. LHQ tuyên bố rằng đây là những nhà hoạt động trẻ ôn hòa và việc bắt giữ họ là vi phạm các quyền căn bản mà một công dân Việt Nam phải được hưởng". 


Từ lâu, tổ chức "Việt Tân" đã được xác định là một tổ chức khủng bố quốc tế không chỉ bởi Việt Nam mà rất nhiều quốc gia trên thế giới; ngay cái "ô bảo trợ" Hoa Kỳ cũng từng công nhận tổ chức này đi ngược lại lợi ích, hòa bình của nước này và nhân loại tiến bộ. Trên thực tế, đối với mọi tổ chức bên ngoài, để thích nghi và tồn tại lâu dài thì việc thay đổi phương cách hoạt động là chuyện hết sức bình thường; bằng cách này, cách khác, "Việt Tân" thực sự đã thuyết phục được chính giới một số nước công nhận và ủng hộ mình, tuy nhiên, tội danh "khủng bố" đâu chỉ được xây dựng chỉ bằng những hoạt động "bạo động" và công khai...Vả lại, thực tế tổ chức này đâu đã từ bỏ phương thức hoạt động này, có chăng họ đang áp dụng thủ thuật ngụy trang kín đáo hơn thôi...Với việc xây dựng mạng lưới từ bên trong chúng đã gián tiếp "chuyển lửa về", sử dụng chính mạng lưới này để trực tiếp thực thi những kế hoạch, hành động do chúng chỉ đạo.


Tất nhiên, để hệ thống mạng lưới này phát huy tác dụng và có khả năng triển khai thành công những kế hoạch, hành động, chúng đã bố trí, sắp xếp để tổ chức "các khóa huấn luyện đấu tranh bất bạo động để cổ xúy dân chủ tại Việt Nam". Về hình thức đây là lớp học huấn luyện các kỹ năng hoạt động nhưng thực chất thông qua những lớp học kiểu này chúng đã hình thành trong đầu những người tham gia những tư tưởng, hành động chống lại chế độ, nhà nước hiện hành; gián tiếp cổ động cho các hoạt động chống đối công khai từ bên trong. Một trong những thủ đoạn mà chúng đang sử dụng chính là hình thành nên một lực lượng đối lập đủ mạnh, chờ đợi thời cơ cổ vũ xuống đường bạo động và lật đổ....


Những nguy cơ đó là hiện hữu và có thể diễn ra nếu chúng thực hiện cài cắm thành công hệ thống mạng lưới bên trong. Yêu cầu bảo vệ chế độ, bảo vệ sự toàn vẹn của thế chế khiến mọi quốc gia khi đối diện với những nguy cơ đó không thể ngồi yên bởi loại tội thuộc chương Xâm phạm An ninh quốc gia phần lớn đều cấu thành "hình thức" (khác với cấu thành "vật chất" nên khi có những dấu hiệu "âm mưu, ý đồ" thì đã cấu thành tội, không cần chờ đến có hành vi mới cấu tành bơi như vậy thì e không còn gì là bảo vệ). Xuất phát từ những tính cấp thiết đó, việc bắt, xử lý 17 người nói trên là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với luật pháp quốc tế hiện hành.


Nên chăng, hãy để cho chính những chủ thể trong cuộc lên tiếng, hãy đừng làm thay khi chưa được phép./.

An Chiến

 

Tặng độc giả Bài thơ quê hương - Nguyễn Bính, nhân dịp tết năm con ngựa sắp đến

 Thời điểm sáng tác được ghi là “Tết Bính Ngọ, 1966” nhưng khi tết Bính Ngọ chưa kịp bước vào ngày đầu tiên thì Nguyễn Bính đã vĩnh viễn ra đi sau một cơn thổ huyết bất ngờ vào sáng 20/1/1966, tức 29 tháng chạp Ất Tỵ, để lại “Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân” như câu thơ ông viết từ 26 năm trước.



Bài thơ quê hương


Trải nghìn dặm trời mây bạn tới
Thăm quê tôi, tôi rất đỗi vui mừng
Bạn nán lại cùng tôi thêm buổi nữa
Để tôi xin kể nốt chuyện quê hương

Quê hương tôi có cây bầu cây nhị
Tiếng đàn kêu tích tịch tình tang…
Có cô Tấm náu mình trong quả thị
Có người em may túi đúng ba gang


Quê hương tôi có ca dao tục ngữ
Ông trăng tròn thường xuống mọi nhà chơi
Một đĩa muối cũng mặn tình chồng vợ
Một dây trầu cũng nhắc chuyện lứa đôi


Con chim nhỏ cũng đau hồn nước mất
“Cuốc cuốc” kêu rỏ máu những đêm vàng
Chân ngựa đá cũng dính bùn trận mạc
Theo người đi cứu nước chống xâm lăng


Quê hương tôi có bà Trưng, bà Triệu
Cưỡi đầu voi, dấy nghĩa, trả thù chung
Ông Lê Lợi đã trường kỳ kháng chiến,
Hưng Đạo vương đã mở hội Diên Hồng


Quê hương tôi có múa xoè, hát đúm
Có hội xuân liên tiếp những đêm chèo
Có Nguyền Trãi, có “Bình Ngô đại cáo”
Có Nguyễn Du và có một “Truyện Kiều”


Quê hương tôi có Trường Sơn một dải
Có Hồng Hà lại có Cửu Long Giang
Có Hà Nội có hồ Tây, Hoàn Kiếm
Chợ Đồng Xuân bày đủ mặt hàng


Quê hương tôi có sầu riêng, măng cụt
Lòng bưởi đào, lòng gấc đỏ như son
Có gạo tám xoan thổi nồi đồng điếu
Cam xã Đoài ai bóc cũng thơm ngon


Cánh đồng nào cũng chôn vàng giấu bạc
Bờ biển nào cũng chói ngọc ngời châu
Có thanh quế ngửi qua là khỏi bệnh
Có cây lim đóng cả một thân tầu


Quê hương tôi có những người con gái
“Một ngày hai bữa cơm đèn…”
Cách sông cái cũng bắc cầu dải yếm
Cho chàng sang đính ước chuyện nhân duyên


Trong bụng mẹ đã từng mê tiếng hát
Nên quê tôi ai cũng biết làm thơ
Những trẻ nhỏ nằm nôi hay đặt võng
Sớm hay chiều, đều mượn cánh cò đưa


Khi có giặc những tre làng khắp nước
Đều xả thân làm ngọn mác, mũi chông
Những trai gái thôn Đông, xóm Bắc
Thoắt vươn vai thành những anh hùng…


Quê tôi đó, bạn ơi! là thế đó.
Mà nghìn năm rặt những tiếng kêu thương
Sung sướng làm sao! Bỗng một ngày có Đảng
Có Bác Hồ, làm sống lại quê hương.


Đánh Nhật, đuổi Tây cứu dân, dựng nước
Hai mươi năm kể biết mấy công trình
Và từ đây, núi sông và cuộc sống.
Và quê hương mới thực sự của minh.


Cuộc đời mới con người cũng mới
Khắp bốn phương lộng lẫy ánh sao cờ,
“Đoàn quân Việt Nam đi… chung lòng cứu quốc…”
Đầu ngẩng cao từ cách mạng mùa thu


Những xiềng xích nghìn năm đều bẻ gãy.
Những bài ca điệu múa lại vui tươi.
Những trận khóc đêm dài không có nữa
Thành thị, nông thôn rộn rã tiếng cười


Trong lũy tre xanh vui mùa hợp tác
Mái ngói nhô lên như những nụ hoa hồng
Chung ruộng, chung trâu, chung lòng, chung sức
Chung con đường gặt lấy ấm no chung


Trong xưởng máy tưng bừng như đám hội
Những chủ nhân là chính những công nhân
Tiếng máy reo chen tiếng cười tiếng hát
Chẳng còn đâu tiếng chủ thét, cai gầm


Những nhà thơ được tự do ca ngợi
Quê hương, Tổ quốc, con người…
Và đời sống khỏi túng, nghèo, đói, khổ
Khỏi bị ai khinh rẻ, dập vùi


Đời trước thường mơ chuyện tiên, chuyện Phật,
Truyện thiên đường trong những cõi hư vô
Đời nay dựng thiên đường trên mặt đất
Dựng mùa xuân trong tất cả bốn mùa


Khi con người được tự do giải phóng
Đất rộng hơn mà trời cũng xanh hơn
Quả trên cành cũng thêm ngon, thêm ngọt
Hoa trong vườn cũng thêm sắc, thêm hương


Và ý nghĩa những ca dao, tục ngữ
Ngày càng thêm thắm thiết, ngọt ngào.
Và “Truyện Kiều” mới có chân giá trị
Và Nguyễn Du mới thành đại thi hào


Thửa ruộng cũ cấy thêm mùa lúa mới
Khung trời quê mọc những nóc lò cao
Dây cao thế đã chăng dài khắp nẻo
(Xóm làng tôi điện sẽ át trăng sao)


Những gỗ tốt đã dựng câu lạc bộ
Gạo tám xoan thơm bếp lửa nhân dân
Những cô Tấm tự tay xây hạnh phúc
Chẳng phải gian nan hoá kiếp mấy lần


Và lớp lớp những anh hùng xuất hiện.
Sức thanh niên: sức Phù Đổng là đây
Đẩy biển lùi ra, ngăn sông đứng lại
Khẩu súng trường cũng hạ nổi máy bay.


Hội Diên Hồng thôn xã nào cũng mở,
Chuyện “kháng chiến trường kỳ” ai cũng nhớ nhập tâm
“Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”
Câu ấy giờ đây đã đúng cả trăm phần


Đảng cùng dân đã viết thêm lịch sử,
Lửa Điện Biên sáng dậy cả trăm năm
Lửa Ấp Bắc, Chu Lai cũng bừng rực rỡ
Lửa chiến công đang chói lọi miền Nam


Khi có Đảng, có Bác Hồ lãnh đạo
Có truyền thống cha ông để lại tự bao đời
Thì đánh Mỹ nhất định là phải thắng
Chuyện ấy, quê tôi, thành chuyện dĩ nhiên rồi



Câu chuyện quê tôi, sơ sài mấy nét
Bạn trở về xin kể mọi người hay
Riêng phần tôi có thơ này tặng bạn
Tặng quê mình, nhân dịp tết năm nay

                                                   Nguyễn Bính


                                              Tết Bính Ngọ - 1966


Nguồn:dantri.com.vn

Hot - Ông Nguyễn Thanh Chấn được minh oan -Giới rận chủ sẽ nghĩ gì?

Sau hàng vạn những xuyên tạc của giới rận chủ, sau những giây phút trải lòng mình cùng dư luận, cũng như những oan ức của ông Chấn đã được làm sáng tỏ, vào hồi 10 giờ sáng ngày 25/1/2014, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã chính thức công bố quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với ông Nguyễn Thanh Chấn trước sự chứng kiến của hàng ngàn người dân. Ông Chấn bật khóc khi được khẳng định vô tội.

Ông Chấn bật khóc khi chính thức thành người vô tội 1
Ông Chấn bật khóc khi nhận quyết định đình chỉ điều tra của Bộ Công an




Tại buổi công bố quyết định còn có sự tham gia của đại diện VKSND Tối cao và lãnh đạo UBND huyện Việt Yên cùng đông đảo người dân xã Nghĩa Trung.Hội trường UBND xã Nghĩa Trung chật kín người dân háo hức đến nghe ông Chấn được minh oan như thế nào. Hàng trăm người khác đứng ngoài trong thời tiết mưa phùn lắng nghe quyết định của đại diện Bộ Công an.Quyết định nêu rõ: Kết quả điều tra thấy có đủ căn cứ để xác định ông Nguyễn Thanh Chấn không liên quan đến việc sát hại chị Nguyễn Thị Hoan (thôn Me). Do đó quyết định đình chỉ điều tra đối với ông Nguyễn Thanh Chấn.

Trước đó, ông Chấn bị bắt và kết án chung thân trong một vụ án mạng xảy ra tại thôn Me vào năm 2003. Tuy vậy 10 năm sau, hung thủ thực sự của vụ án ra đầu thú. Lúc này, ông Chấn mới được minh oan.

Sau khi hung thủ thực sự ra đầu thú, cuối năm 2013, Hội đồng tái thẩm (TAND Tối cao) đã tuyên hủy bản án của 2 phiên tòa phúc thẩm và sơ thẩm có hiệu lực từ gần 10 năm trước. Đó là 2 phiên tòa đã tuyên ông Chấn tù chung thân về tội "giết người". Mặc dù tuyên hủy và trả hồ sơ điều tra lại từ đầu nhưng ông Chấn vẫn là bị can trong vụ án.

Sau quyết định đình chỉ điều tra bị can này, người tù oan 10 năm mới chính thức không còn liên quan đến vụ án.
Ông Chấn bật khóc khi chính thức thành người vô tội 2
Đông đảo người dân đến nghe quyết định đình chỉ điều tra với ông Chấn


Trao đổi với báo chí, ông Nguyễn Thanh Chấn nói trong nước mắt: “Tôi đã chính thức thành người vô tội rồi, bao nhiêu năm vừa qua khổ quá! Tôi thực không còn gì vui hơn”.

Ông Chấn cho biết sáng hôm qua (24/1) điện Bộ Công an đã cùng bà Vũ Thị Nga, Phó Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật Liên đoàn Luật sư Việt Nam, và ông có một buổi làm việc.

Các điều tra viên hỏi thêm nội dung về việc bức cung, nhục hình. “Người ta hỏi tôi có thể chứng minh được hành vi bức cung hay không? Tôi bảo giờ chả có bằng chứng gì vì lúc đó chỉ có điều tra viên và tôi. Họ cũng nói sẽ làm càng nhanh càng tốt, làm trước Tết để ăn Tết cho ngon”.

“Sau đó, đại diện Bộ Công an liên lạc với tôi qua điện thoại và mời lên UBND xã Nghĩa Trung để đọc quyết định tha chính thức. Còn như hôm nọ (ngày 4/11/2013) mới là tạm thôi”- ông Chấn thuật lại.
Ông Chấn bật khóc khi chính thức thành người vô tội 3
Quyết định đình chỉ vụ án


Ông Nguyễn Văn Linh, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Bắc Giang, cho biết có thể coi là một buổi minh oan, công bố chính thức về vụ án của ông Chấn. Viện kiểm sát đã tái thẩm rồi còn giờ là phía Công an thông báo.

“Hôm qua đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh giao lại cho tôi để thông tin về xã, yêu cầu chuẩn bị, đón gia đình ông Chấn lên. Tôi có chỉ đạo mời gia đình ông Chấn, đặc biệt là người dân thôn làng, hệ thống chính trị của thôn, xã, thông báo rộng rãi. Đây cũng có thể coi là một hình thức để chia sẻ với nỗi oan ức của ông Chấn”- ông Linh cho biết.


Như vậy những oan khuất của ông Chấn đã được giải quyết, cơ quan thực thi pháp luật đã thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ của mình, những người, tình tiết mới liên quan đến vụ án sẽ được điều tra làm rõ, tính nghiêm minh của pháp luật đã được thực thi, thiết nghĩ đến lúc này giới rận chủ và dâm chủ nên câm họng lại, đừng lợi dụng vụ việc của những người dân lương thiện để vu cáo Việt Nam này nọ. Sự dân chủ đã khẳng định cũng là lúc sự kiến ông Chấn và vụ mùa bội thu của bè lũ dân chủ khép lại, sang trang một năm mới.

Trần Ái Quốc

Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2014

Bàn về nhân cách đạo đức của Đỗ Hùng – Phó Tổng thư ký báo Thanh niên Online

Có những chuyện không thể tưởng tượng được khi những người đạt được những vị trí đức cao vọng trọng nhưng lại có những phát ngôn và quan điểm khiến xã hội không thể chấp nhận nổi như ông Đỗ Hùng - Phó Tổng thư ký báo Thanh niên Online.



Xung quanh những quan điểm mà cư dân mạng bàn tán thời gian qua là liệu ông Đỗ Hùng có xứng đáng với vai trò là Phó Tổng thư ký Báo Thanh Niên Online hay không tác giả xin có vài ý kiến cá nhân như sau:


Trên trang Facebook của Đỗ Hùng - Phó tổng thư ký Báo Thanh niên Online được tác giả đăng một trạng thái như sau:


Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm Hoàng Sa là phi pháp. OK.


Nhưng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa dùng vũ lực để thống nhất đất nước, liệu họ có đủ tư cách kế thừa chủ quyền hợp pháp tại Hoàng Sa? 


Thiết nghĩ với vai trò là một Phó tổng thư ký của một tờ báo được thành lập từ thời Cụ Hồ dựng nước, với tư cách là cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, đã từng đóng góp vai trò vô cùng quan trọng đối với quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì với vai trò là người kế thừa và phát triển cơ quan ngôn luận của Thanh niên Việt Nam, vì sao Đỗ Hùng lại có những phát ngôn mang tính ngang ngược đến như thế, ít nhất để có được vị trí hiện tại Đỗ Hùng phải có một trình độ, một khả năng nhất định nào đó mới có thể đạt được, đặc biệt với vai trò một nhà báo, Đỗ Hùng ít nhất là người có nhiều hiểu biết về chính trị, xã hội, văn hóa Việt Nam, hơn nữa với cương vị là phó Tổng biên tập báo Thanh niên, với vị trí của mình Đỗ Hùng thừa điều kiện để tiếp xúc với những thông tin nhiều chiều, từ đó có thể nhận thức rõ được sự thật về cuộc chiến tranh Việt Nam, nhưng hình như nhiêu đó chưa đủ đối với Đỗ Hùng.


Vì vậy, việc Đỗ Hùng có đủ nhân cách và đạo đức để lãnh đạo Báo Thanh niên hay không thì không cần phải bàn vì có đến 99,9% đồng ý với tác giả là Đỗ Hùng không xứng đáng với cương vị hiện tại.


Có thể nói luận điệu “dùng vũ lực để thống nhất đất nước” chẳng khác nào nói Cương vị trong quá khứ của chế độ Việt Nam Cộng hòa là xứng đáng, họ có quyền thống nhất đất nước trong khi họ chính là tay sai của Đế quốc Mỹ, những kẻ mang tội ác xâm lược đất nước Việt Nam, mang đau khổ, tàn bạo đến cho nhân dân Việt Nam? Có thể khẳng định đây là giọng điệu ngang hàng với miệng lưỡi của những kẻ chống cộng cực đoan, những kẻ phục vụ dưới chế độ cũ đã cuốn gói cút khỏi miền Nam Việt Nam trong ngày Miền Nam hoàn toàn được giải phóng, những luận điệu nhằm che giấu đi bản chất đớn hèn và xấu xa của một chế độ mạt hạng về nhân quyền trong lịch sử. Đây là một luận điệu vừa ngu xuẩn vừa lố bịch. Cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, dân tộc và nhân loại trong lịch sử.Thật chẳng hiểu Đỗ Hùng nghĩ gì mà lại phun trào nhưng ngôn ngữ kiểu mất nhân tính như thế này?


Trên trelangblogspot đăng những dẫn chứng trên các báo Mỹ, Tác giả xin phép trích đăng:


Trong chương tám, tài liệu “Quân đội Mỹ và cuộc chiến tranh không quy ước” của tác giả John M. Gates “The U.S. Army and Irregular warfare” có đoạn viết:


The war in Vietnam was not a war of aggression by the North against the South, nor was it ever a purely conventional war. From start to finish, the Vietnam War was a people's war, and the communists won because they had, as one American general who served in Vietnam observed


Dịch là: Cuộc chiến Việt Nam không phải là một cuộc xâm lăng của miền Bắc chống miền Nam, cũng chưa bao giờ là cuộc chiến thuần túy theo quy ước. Từ đầu tới cuối, cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến của nhân dân, và Cộng sản thắng, như một Tướng Mỹ đã từng phục vụ ở Việt Nam đã nhận định


Còn tài liệu của Lầu Năm Góc (The Pentagons Papers)


American Intelligence estimates during the 1950s show, The Pentagon account says, that the war began largely as a rebellion in the South against the increasingly oppressive and corrupt regime of Ngo Dinh Diem.


“Most of those who took up arms were South Vietnamese and the causes for which they fought were by no means contrived in North Vietnam,” the Pentagon account says of the years from 1956 to 1959, when the insurgency began.


There is only sparse evidence that North Vietnam was directing, or was capable of directing, that violence (Last quarter of 1957: 75 local assassinated or kidnapped. On October 22, 1957, 13 Americans were wounded in three bombings in Saigon)


From 1954 to 1958 North Vietnam concentrated on its internal development, apparently hoping to achieve reunification either through the election provided for in the Geneva settlement or through the natural collapse of the weak Diem regime. The Communist left behind a skeletal apparatus in the South when they regrouped to North Vietnam in 1954 after the war with the French ended, but the cadre members were ordered to engage only in “political struggle.”


Dịch ra là:


Tài liệu Lầu Năm Góc nói: tình báo Mỹ ước tính trong thập niên 1950 là chiến tranh phát khởi phần lớn là do sự nổi dậy ở miền Nam để chống chế độ tham nhũng và càng ngày càng đàn áp dân chúng của Ngô Đình Diệm .


Tài liệu Lầu Năm Góc nói về những năm 1956-1959, khi mà cuộc nổi dậy bắt đầu, hầu hết những người đứng lên cầm vũ khí là những người Việt miền Nam và những nguyên nhân họ chiến đấu không có cách nào có thể bảo đó là do kế hoạch tính toán trước ở Bắc Việt.


Chỉ có rất ít bằng chứng là Bắc Việt đã chỉ đạo, hoặc có khả năng để chỉ đạo, những sự bạo động ở miền Nam (3 tháng cuối 1957: 75 viên chức địa phương bị ám sát. Ngày 22 tháng 10, 1957, 13 người Mỹ bị thương trong 3 cuộc nổ bom ở Saigon)


Từ năm 1954 đến năm 1958 Bắc Việt tập trung vào sự phát triển nội bộ, hiển nhiên là hi vọng vào một cuộc thống nhất đất nước hoặc qua cuộc bầu cử theo như Hiệp Định Genève hoặc là kết quả của sự sụp đổ đương nhiên của chế độ Diệm yếu ớt. Cộng sản để lại ở miền Nam một bộ phận nòng cốt khi họ đi tập kết ra Bắc năm 1954 sau cuộc chiến với Pháp chấm dứt,nhưng những cán bộ được lệnh chỉ được “tranh đấu chính trị” [để sửa soạn kiếm phiếu trong cuộc bầu cử mà Bắc Việt hi vọng, và điều này không vi phạm hiệp định Genève]


Lịch sử còn ghi rõ những tội ác của chế độ Việt Nam Cộng hòa, lịch sử cũng nói rõ sự nhu nhược của chế độ này đối với cuộc Hải chiến trường sa năm 1974, đồng thời cũng chỉ rõ sự khốc liệt trong cuộc chiến bảo vệ chủ quyền dẫn đến 61 chiến sỹ Hải quân Việt Anh anh dũng hy sinh tại bãi đá Gạc Ma ngày 14/3/1981. Chỉ với những trích dẫn như trên đã chứng minh cho sự ngu xuẩn của những kẻ có những suy nghĩ thiển cận, đi ngược lại với lợi ích và mong muốn của đại đa số nhân dân Việt Nam.


Đối với những kẻ như Đỗ Hùng, lấy vỏ bọc nghề nghiệp nhà báo để che dấu toan tính ma quỷ của mình thì đó là ác nghiệp. Vì vậy cần ngay lập tức cách chức nhà báo Đỗ Hùng để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và đạo đức.


 Trần Ái Quốc

BBC -Vũ Tường, biết gì mà nói?

Trong bài viết "Vì Sao Miền Bắc Chiến Thắng?" được  BBC phối hợp cùng tên giáo sư Vũ Tường một giọng điệu không mới nhưng tởm lợm và ngu xuẩn của tên giáo sư Vũ Tường được phơi bày, những bịa đặt, xuyên tạc theo đó cũng vô cùng khốn kiếp theo đúng bản chất của dân chủ. Trong bài viết này, tên Vũ Tường phối hợp với BBC biến cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt Nam -cuộc cách mạng giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, chống lại ách áp bức của thực dân, đế quốc thành cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam - Bắc. Trong khi sự thật rành rành được cả quốc tế công nhận là đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam, dựng nên chế độ độc tài tay sai Ngô Đình Diệm và bè lũ nhà Diệm

Nói luôn cho nhanh, hoàn toàn không có chuyện miền Bắc Chiến thắng miền Nam, mà chỉ có dân tộc Việt Nam chiến thắng quân xâm lược Mỹ và bọn tay sai. Sự thật là chính Đế quốc Mỹ mới là kẻ xâm lược và nhân dân Việt Nam là những người phát động cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.
 
Thật xấu hổ cho một giáo sư đại học Mỹ có cái tên của người Việt mà đến lịch sử dân tộc cũng không hiểu. Xin hỏi có sự tàn bạo nào hơn việc Mỹ sử dụng các loại vũ khí giết người hàng loạt ở Việt Nam? Xin hỏi nếu đế quốc Mỹ không Xâm lược Việt Nam thì chiến tranh như vậy có xảy ra hay không? Liệu đó có phải là những giá trị Mỹ mà các nhà zân chủ cuội ở Việt Nam đang tôn thờ?Người Việt Nam chân chính không chấp nhận kẻ nào xuyên tạc lịch sử.
 
Mời các bạn đọc bài "Chiến Tranh Việt Nam Từ Một Góc Nhìn" để giải đáp thắc mắc: Ai là người đã gây ra cuộc chiến ở Việt Nam, và có cái ác nào hơn cái ác của sự hủy diệt con người và thiên nhiên Việt Nam:
 
Mặc dù đã lùi vào dĩ vãng, nhưng hậu quả của cuộc chiến tranh xâm lược do Mỹ tiến hành trên đất nước Việt Nam 34 năm trước đây vẫn còn hết sức nặng nề. Những bài học lịch sử từ cuộc chiến tranh đó cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị, bởi nó không chỉ lý giải về sự thất bại của cường bạo trước sức mạnh chính nghĩa mà còn cảnh tỉnh những người vẫn mơ hồ tin vào cái gọi là sứ mệnh “mở rộng dân chủ” như vẫn thường được tuyên truyền. Nỗi đau khôn nguôi!
 
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, quân đội Mỹ đã trút xuống hai miền Nam, Bắc Việt Nam một khối lượng bom lớn hơn bất cứ cuộc chiến tranh nào do Mỹ thực hiện trước đó. Cuộc khủng bố đẫm máu ở Mỹ Lai, B52 rải thảm ở Khâm Thiên và chiến dịch rải chất độc da cam trên một diện tích rộng trong chiến tranh chỉ là số ít trong hàng nghìn tội ác mà quân đội Mỹ đã gây ra cho dân tộc Việt Nam.
 
Trong vụ thảm sát ở Mỹ Lai, lính Mỹ đã giết hại hơn 500 người, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Vụ việc đã từng bị cố tình che đậy gần hai năm trời, và chỉ sau khi báo chí điều tra ra, sự thật mới bị phơi bày. Nhiều tờ báo ở Mỹ lúc đó bình luận: "Nước Mỹ và người Mỹ không thể không gánh nặng cảm giác tội lỗi và sự day dứt của lương tâm trước những gì diễn ra ở Mỹ Lai”.Và cũng tương tự như vậy, cho đến hôm nay, nỗi kinh hoàng trong vụ thảm sát phố Khâm Thiên - khu phố đông dân nhất của Hà Nội, tháng 12-1972 bằng bom B52 của không lực Hoa Kỳ vẫn chưa phai mờ trong tâm trí mỗi người dân Hà Nội. Chỉ trong đêm 26-12-1972, toàn bộ 6 khối phố của Khâm Thiên bị phá huỷ, gần 2.000 ngôi nhà bị sập, trong đó có 534 căn nhà sập hoàn toàn. Bom B52 đã cướp đi 283 sinh mạng, trong đó có 40 cụ già, 91 phụ nữ, 55 trẻ em, làm bị thương 266 người. Nhiều gia đình không còn ai sống sót. Tại Bệnh viện Bạch Mai, nhiều phòng bệnh đã bị bom Mỹ đánh sập cùng với các bệnh nhân và nhân viên y tế. Hồi tưởng lại những gì đã xảy ra ngày đó, một nạn nhân sống sót đã bày tỏ, chiến tranh đã đi qua hơn 30 năm, nhưng mỗi lần đến ngày lễ Giáng sinh, ông lại thấy đau âm ỉ trong lòng vì cảnh tang thương ngày ấy. Giờ đây, sau gần 40 năm, những dấu tích chiến tranh dường như không còn nữa, nhưng bức tượng người phụ nữ bồng xác đứa con thơ đứng đau đớn, lặng lẽ trên phố Khâm Thiên sẽ là một bằng chứng chiến tranh còn lại mãi với thời gian. Năm đó, Đức Chúa trời hẳn đã chứng kiến một mùa Giáng sinh đau thương ở Hà Nội và buồn ở Oa-sinh-tơn.
 
Chưa hết, có lẽ dã man nhất là việc quân đội Mỹ sử dụng chất độc màu da cam/dioxin dội xuống các chiến trường miền Nam Việt Nam. Những hậu quả của chất dioxin đối với người Việt Nam đến nay vẫn còn hết sức nặng nề với khoảng 4,8 triệu nạn nhân bị ảnh hưởng và 150.000 trẻ em bị dị dạng ngay từ khi mới sinh ra. Hậu quả bi thảm này không biết sẽ kéo dài đến bao giờ và qua bao nhiêu thế hệ. Trong tuyên bố phản đối Tòa án Tối cao Hoa Kỳ bác đơn thỉnh cầu của các nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam ngày 2-3-2009, Hội đồng Hòa bình Mỹ khẳng định: đây là sự vi phạm thô bạo của quân đội Mỹ về quyền con người, một tội ác nghiêm trọng chống lại loài người, đồng thời lên tiếng phê phán chính quyền và các công ty hóa chất Mỹ đã lẩn trốn trách nhiệm và che dấu sự thật trước dư luận.
 
Nhắc lại những ký ức đau thương trong chiến tranh, người viết bài này không nhằm khơi lại mối thù đã qua, mà chỉ nhằm khẳng định một điều: bạo lực và chiến tranh không phải là phương thức giải quyết các vấn đề của thế giới đương đại.
 
Chiến tranh đã thực sự kết thúc?
 
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, có khoảng 58.000 lính Mỹ bị thiệt mạng, hơn 300.000 người lính khác bị tàn phế, mang trong mình thương tật và di chứng da cam/dioxin. Nước Mỹ đã tiêu tốn trên 900 tỉ USD cho cuộc chiến tranh (cả trực tiếp và gián tiếp), một cuộc chiến tốn kém nhất trong lịch sử nước Mỹ mà không thu được một kết quả nào ngoài sự thất bại ê chề.
 
Điều đáng nói ở đây là, mặc dù chiến tranh đã đi qua hơn 30 năm, nhưng những mặc cảm tội lỗi, những lý giải về sự thất bại của quân đội Mỹ vẫn canh cánh trong lòng nước Mỹ.
 
Lần đầu tiên, vào năm 1988, chính phủ Mỹ buộc phải thừa nhận có khoảng 50.000, tức là 15% trong số lính Mỹ tham chiến tại Việt Nam trở về vẫn còn bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng. Một số do mặc cảm về những tội ác gây ra cho người dân Việt Nam, khi họ cầm súng bắn giết những con người vô tội, trong tay không một tấc sắt để tự vệ. Số khác, cho đến nay vẫn không hiểu lý do vì sao mình lại phải cầm súng “chiến đấu” tại Việt Nam, chiến đấu với ai và chiến đấu vì cái gì?
 
Cựu binh Jim Doyle và David Curry chỉ là hai trong số hàng chục nghìn người bị dăn vặt trong cảm giác tội lỗi. Jim Doyle đã bị đẩy tới chiến trường Việt Nam khi mới 18 tuổi, mặc dù may mắn sống sót trở về, nhưng đến giờ người cựu binh này vẫn không thoát khỏi nỗi ám ảnh: “Chiến tranh là địa ngục. Nó tác động ghê gớm đến con người như một vết thương không thể hàn gắn”, và, “Cuối cùng, tôi nhận ra rằng, chiến tranh không chỉ lấy cắp thời thanh niên của tôi mà còn đeo đuổi, ám ảnh suốt cuộc đời tôi”.
 
Cũng giống như Jim Doyle, cựu nhân viên tình báo Mỹ David Curry cũng không thể thoát khỏi những sợ hãi, căng thẳng về tâm lý khi hồi tưởng về quá khứ chiến tranh. Đến nay, ông vẫn không tin mình đã từng tham chiến tại Việt Nam. Nó như một giấc chiêm bao, chợt đến, chợt đi. Ông nói: “Tất cả những hồi tưởng của quá khứ vẫn còn nguyên vẹn trong tôi cho đến ngày nay và nó khiến tôi thực sự xúc động. Không một người nào ở thế hệ chúng tôi từng sống những ngày tháng đó lại không xúc động, dù có nhiều khi tôi không tin rằng chúng tôi từng có thời gian ở đó”.Sau khi chiến tranh kết thúc, ngày càng có nhiều hồi ký chiến tranh Việt Nam với những lời thú tội và sám hối thật lòng xuất hiện ở Mỹ. Nhiều cựu binh Mỹ đã trở lại chiến trường xưa để tìm cách làm vơi đi những mặc cảm tội lỗi. Trường hợp của hai anh em nhà Frederic Whitehurst (còn gọi là Fret) với hành trình 35 năm lưu giữ cuốn nhật ký của liệt sỹ bác sỹ Đặng Thùy Trâm và cuộc hành trình 39 năm lưu giữ kỷ vật của liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm của cựu binh Hom-mơ Xtet-đi chỉ là những ví dụ điển hình về sự sám hối tội lỗi. Nhiều tờ báo ở Mỹ đánh giá, đối với những người Mỹ, việc phổ biến quyển nhật ký Đặng Thùy Trâm do cựu sỹ quan Hoa Kỳ Frederic Whitehurst từng tham chiến tại Việt Nam lưu giữ trong mấy chục năm qua và những cuộc hội ngộ đầy cảm động giữa ông và gia đình bác sỹ Đặng Thùy Trâm tại Hà Nội ''đã giúp khép lại một phần nào đó nỗi đau của một thế hệ người Mỹ mang trên mình vết thương chiến tranh''. Còn Hom-mơ, sau khi bắn chết và chôn cấtchiến sỹ giải phóng quân Hoàng Ngọc Đảm trong một vụ đụng độ giáp lá cà (ngày 18-3-1969 tại chiến trường Gia Lai) đã đem kỷ vật của người chiến sỹ này về nước Mỹ và gìn giữ suốt 39 năm. Sau những năm sống trong nỗi ám ảnh, người cựu binh này đã quay lại Việt Nam, tìm về gia đình chiến sĩ Đảm để tạ tội và xin được đi tìm hài cốt chiến sĩ Hoàng Ngọc Đảm. Và, ông ta đã khóc bên nấm mồ của người chiến sỹ giải phóng quân. Những giọt nước mắt thành thật và đầy hối hận giữa rừng núi âm u thật thê thảm, nhưng nó đã giúp người cựu binh già này phần nào vơi đi những ám ảnh tội lỗi hành hạ ông bấy lâu nay.
 
Các nhà xã hội Mỹ xác nhận, kể từ sau năm 1973 đến nay, năm nào cũng có những cựu binh Mỹ trở về từ Việt Nam tự sát do mặc cảm tội lỗi bằng những cách thức ghê rợn.
 
Vết thương chiến tranh Việt Nam vẫn len lỏi tới từng gia đình Mỹ, che phủ hành lang quyền lực tại Oa-sinh-tơn và chia rẽ xã hội Mỹ. Cựu phóng viên chiến trường G.Gan-lô-guây (J.Galloway) nói: hãy hỏi chuyện các gia đình vừa đón hài cốt cha anh họ trở về, hãy gặp những người ngày đêm đến đứng trước bức tường tưởng niệm lính Mỹ tại Oa-sinh-tơn, hãy đến thăm những cựu binh bị thương tật, bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam để xem chiến tranh đã thực sự chấm dứt hay chưa?
 
Hình ảnh chiếc trực thăng đưa những người Mỹ cuối cùng rời khỏi nóc Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn buổi trưa ngày 30-4-1975 vẫn ám ảnh nước Mỹ cho đến hôm nay. Đối với họ, cuộc chiến tranh này vẫn còn chưa thực sự kết thúc vì những hậu quả nó để lại thật sâu sắc và dai dẳng.
 
Bài học nào rút ra từ sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến?
 
Một bài học quan trọng được rút từ cuộc chiến tranh Việt Nam là “văn hóa súng đạn” phương Tây không thể khuất phục được văn hóa truyền thống phương Đông.
 
Trong cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam tháng 3-2007 tại tiểu bang Tếch-dát, các học giả Mỹ đã phân tích những nguyên nhân thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh này, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố văn hóa. Cuộc hội thảo này đã đi đến kết luận: sự thiếu hiểu biết của Hoa Kỳ về văn hóa, lịch sử và con người Việt Nam chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của Mỹ trên chiến trường. Không ai phủ nhận sức mạnh số một về kinh tế, quân sự, kỹ thuật của Mỹ. Nhưng, đó không phải là sức mạnh vô địch.
 
Lịch sử chiến tranh đã chứng minh, sức mạnh của đồng đô-la và bom đạn Mỹ không khuất phục được tinh thần yêu nước và truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Học giả Giêm Bru-tơn phát biểu, những nỗ lực của Hoa Kỳ ở Việt Nam phản ánh sự thiếu chuẩn bị về văn hóa cho chiến trường. Đây chính là một phần của văn hóa Mỹ, vốn không chú trọng tới yếu tố văn hóa trong các cuộc xung đột quốc tế. Còn học giả Vê-rôn nhận xét, từ cuộc chiến Việt Nam, có thể rút ra một trong những bài học quí giá là cần phải hiểu rõ kẻ thù của mình… Điều đó người Mỹ đã không làm được ở Việt Nam nên phải gánh chịu nhiều thương tổn.
 
Thế giới đã bước sang giai đoạn mới của lịch sử, trong đó, hòa bình, hợp tác và phát triển đã trở thành xu thế chủ yếu của thời đại; tư duy sử dụng sức mạnh quân sự để giải quyết các vấn đề quốc tế đã trở nên lỗi thời. Lịch sử chiến tranh khẳng định với nhân loại một điều: chiến tranh và bạo lực cường quyền không giải quyết được vấn đề gì ngoài việc khoét sâu hận thù giữa các dân tộc và chia rẽ thế giới. Tuy nhiên, các thế lực hiếu chiến không nghĩ như vậy, họ vẫn đang xoay xở mọi cách để gây ra các cuộc chiến tranh nhằm trục lợi từ những cuộc chiến đó. Vì thế, những bài học lịch sử từ cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra ở Việt Nam vẫn còn giữ nguyên giá trị, bởi nó không chỉ lý giải về sự thất bại của cường bạo trước sức mạnh chính nghĩa mà còn cảnh tỉnh những người vẫn mơ hồ tin vào cái gọi là sứ mệnh “mở rộng dân chủ” như vẫn thường được tuyên truyền. Chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình vẫn luôn là mục tiêu và khát vọng cháy bỏng của nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới.
 

Trần Minh Tơn

 
Chia sẻ