Nhãn

Thứ Năm, 24 tháng 4, 2014

Một số quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giải quyết vấn đề tôn giáo

Việt Nam là một quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo. Nước ta có nhiều tôn giáo khác nhau. Trong đó có 6 tôn giáo lớn (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hòa Hảo) với khoảng 20 triệu tín đồ.Đồng bào các tôn giáo trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.


Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam nhất quán chính sách tôn trọng tự do, tín ngưỡng tôn giáo


Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật quan trọng, thể hiện những quan điểm đổi mới, khoa học về tín ngưỡng, tôn giáo, đã từng bước đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của quần chúng tín đồ và chức sắc tôn giáo. Song tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta những năm qua diễn biến khá phức tạp.


Đảng và Nhà nước ta trước sau như một, thực hành chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo; lãnh đạo và giúp đỡ đồng bào có đạo đoàn kết xây dựng cuộc sống mới và hăng hái tham gia bảo vệ Tổ quốc.


Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thừa nhận quyền tự do tôn giáo. Đại hội II (1951) đưa ra quan điểm tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng của đồng bào các tôn giáo. Đại hội III (1960), Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân. Đại hội IV (1976) tiếp tục tái khẳng định tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân và lần đầu tiên nêu lên việc đối xử bình đẳng về mặt pháp luật đối với tôn giáo. Đại hội V (1982) lại tập trung vào việc tuyên truyền, giáo dục chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các tôn giáo, động viên đồng bào có đạo tăng cường đoàn kết với các tầng lớp nhân dân, chấp hành nghiêm chỉnh mọi chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đại hội VI (1986), Đảng ta cho rằng, trước sau như một thực hành chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng.


Nghị quyết số 24 ngày 16 tháng 10 năm 1990 của Bộ Chính trị khóa VI về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” được coi là dấu mốc mở đầu cho bước ngoặt phát triển nhận thức về tôn giáo của Đảng ta. Nghị quyết mang tính đột phá là đã coi tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và tôn giáo có những giá trị văn hóa, đạo đức phù hợp với chế độ mới. Nghị quyết này cũng cũng nêu lên 3 quan điểm chỉ đạo đổi mới công tác tôn giáo, 3 nhiệm vụ, 5 nguyên tắc và 5 chính sách cụ thể đối với tín đồ, với chức sắc, với nhà tu hành, với tổ chức giáo hội, với hoạt động từ thiện xã hội của tôn giáo với hoạt động đối ngoại của tôn giáo.


Đại hội VII (1991), Đảng ta cho rằng tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đại hội VIII (1996), Đảng ta tái khẳng định mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.


Sau Nghị quyết 24, Đảng ta còn nhiều văn kiện khác khẳng định và phát triển tư duy đổi mới về tôn giáo. Cụ thể là Chỉ thị 37/CT-TW ngày 2 tháng 7 năm 1998 của Bộ Chính trị về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới”, một văn kiện quan trọng lần đầu tiên được đăng tải trên báo Nhân dân và một số tờ báo khác.


Đại hội IX (2001), Đảng ta nhấn mạnh việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.


Ngày 12 tháng 3 năm 2003, tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương (Khóa IX), vấn đề tôn giáo được đưa ra bàn bạc, quyết định và ra Nghị quyết riêng về công tác tôn giáo - Nghị quyết số 25. Nghị quyết này đã đánh giá tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo, xác định những quan điểm, chính sách, đề ra những nhiệm vụ, các giải pháp chủ yếu và tổ chức thực hiện công tác tôn giáo trong tình hình mới.


Nghị quyết 25 được xem là quá trình tiếp tục đổi mới về tư duy của Đảng trên lĩnh vực tôn giáo. Nghị quyết này đã nêu ra 5 quan điểm, chính sách đối với tôn giáo, trong đó có sự tái khẳng định những quan điểm trước đó, có những quan điểm mới được bổ sung như: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội”.


Đại hội X (2006) khẳng định việc thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của nhân dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình đẳng theo pháp luật.


Đến Đại hội XI (2011), Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Điều này thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh tình hình tôn giáo ở nước ta và trên thế giới đang có những diễn biến phức tạp, khó lường. Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước”.


Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI có ghi: “… Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất”.


Qua đó ta thấy, vấn đề tôn giáo được nêu lên trong các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị đã thể hiện một lộ trình đổi mới tư duy của Đảng trên lĩnh vực tôn giáo. Các thế lực thù địch đã, đang và sẽ tìm cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm mục đích chống phá sự nghiệp cách mạng của nước ta. Nhưng, với sự đổi mới chính sách tôn giáo đã đem lại hiệu quả to lớn trong việc góp phần quyết định tạo ra sự ổn định, bức tranh sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam ngày càng có nhiều điểm sáng, đồng bào các tôn giáo ngày càng đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng để xây dựng và phát triển đất nước.


Như vậy, tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là có thật, nó không phải là một thủ đoạn chính trị hay mị dân mà là một chính sách nhất quán, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta.


Dân Chủ

0 Nhận Xét :

 
Chia sẻ