Nhãn

Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

Tòa trọng tài quốc tế và những quan điểm về Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958

Giáo sư Luật Erik Franckx, thành viên của Tòa trọng tài thường trực, cho rằng công hàm năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ đề cập đến việc mở rộng lãnh hải của Trung Quốc chứ không hề nhắc đến Hoàng Sa hay Trường Sa.

Thành viên Tòa trọng tài thường trực nói về công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Giáo sư  Erik Franckx, Đại học Tự do, Bỉ, thành viên Tòa trọng tài thường trực (trái) và Giáo sư Jerome Cohen, Chủ tịch Viện Luật pháp Hoa Kỳ - Châu Á, ĐH Luật New York, trao đổi vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa theo những khía cạnh pháp lý bên lề Hội thảo "Hoàng Sa-Trường Sa: Sự thật lịch sử" ở Đà Nẵng.


Trung Quốc cho rằng nước này có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và một trong những lý do thường được Trung Quốc viện dẫn để biện hộ cho yêu sách chủ quyền của mình là ngày 14/9/1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi đó Phạm Văn Đồng đã gửi công hàm cho Thủ tướng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai xác nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam) và Nam Sa (tức Trường Sa của Việt Nam).


Tại triển lãm quốc tế “Hoàng Sa-Trường Sa: Phần lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam” tại Bảo tàng Đà Nẵng ngày 21/6 vừa qua, Giáo sư Luật Erik Franckx, Đại học Tự do Brussel, Bỉ và là thành viên của Tòa trọng tài thường trực (PCA) cho biết: “Cần phải đọc công hàm này rất kỹ, nhất là tuyên bố của ngài Phạm Văn Đồng, bởi vì nó chỉ nhắc đến việc mở rộng lãnh hải.”


Ông cho biết vào thời điểm công hàm được đưa ra (năm 1958), nhiều nước ra tuyên bố mở rộng lãnh hải 12 hải lý và ông cho rằng công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng “ủng hộ cho việc mở rộng đó của Trung Quốc”. Tuy nhiên ông nhận định: “Điều quan trọng là Thủ tướng Phạm Văn Đồng không đề cập cụ thể đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, nên không thể suy diễn Việt Nam xác nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa hay Trường Sa.


Nói về giá trị pháp lý của các bản đồ, Giáo sư Franckx cho biết, rất khó có thể chứng minh chủ quyền lãnh thổ chỉ bằng bản đồ vì vậy bản đồ cần phải đi kèm với những tài liệu, thỏa thuận có giá trị pháp lý.


“Bản thân bản đồ chỉ là bằng chứng đủ, hỗ trợ thêm cho các thỏa thuận, tài liệu được đưa ra. Vì lý do đó tôi cho rằng việc kết hợp các thỏa thuận, tài liệu với bản đồ là rất quan trọng”, Giáo sư Franckx cho biết.


“Chạy đua kiện” tốt hơn “chạy đua vũ khí"


Nói về khả năng Việt Nam kiện Trung Quốc, Giáo sư Franckx cho biết Việt Nam có thể chọn các cơ chế khác nhau theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS), như phân định về vùng biển. Ông cũng cho rằng Việt Nam có thể chọn vấn đề như Philippines, tức yêu cầu Trung Quốc định nghĩa “đường 9 đoạn” là gì.


Trong khi đó, Giáo sư Jerome Cohen, Chủ tịch Viện Luật pháp Hoa Kỳ - Châu Á, ĐH Luật New York, cũng cho rằng nếu kiện, Việt Nam nên kiện Trung Quốc theo các cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS. Theo ông khả năng Việt Nam kiện Trung Quốc ra Tòa Công lý quốc tế là rất khó bởi Trung Quốc có quyền từ chối tham gia, theo quy định của tòa.


“Câu hỏi ai sở hữu quần đảo Hoàng Sa không phải là vấn đề được đề cập trong Công ước Luật biển. Mà đây là vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Chính phủ Việt Nam có thể đưa vụ kiện đối với vấn đề Hoàng Sa lên Tòa án công lý quốc tế (ICJ). Nhưng cơ hội để ICJ đưa ra phán quyết đối với vụ kiện là rất nhỏ bởi Trung Quốc theo quy định không buộc phải giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ trước ICJ.”


“Nhưng tôi cho rằng Trung Quốc phải có trách nhiệm giải quyết vụ kiện đối với mình theo Hệ thống tòa án của Công ước Luật biển. Và chắc chắn là Trung Quốc phải có trách nhiệm tuân thủ bất kỳ quyết định nào từ tòa án trọng tài, như trong vụ kiện của Philippines”, Giáo sư Cohen cho hay.


Giáo sư Cohen cũng gợi ý châu Á có thể thành lập một tòa riêng để giải quyết những tranh chấp trong khu vực.


Giáo sư Cohen cho rằng Việt Nam nên kiện ngay Trung Quốc, dù kết quả vụ kiện ra sao, vì đây là một quá trình để nêu quan điểm, thuyết phục ý kiến của công luận và đây là một cách văn minh để giải quyết tranh chấp, trong khi vẫn có thể thúc đẩy được hợp tác. Ông cho rằng dù châu Á có “chạy đua các vụ kiện vẫn còn tốt hơn là chạy đua vũ khí”.


Cẩu tặc Nguyễn Lân Thắng và những phát ngôn mất nhân tính!

Trần Ái Quốc - Tên súc vật Nguyễn Lân Thắng và những phát ngôn mất nhân tính!



Thanh niên Việt Nam yêu nước như thế này mà thắng cờ hó này dám nói là liên tưởng đến Hồng vệ binh? Vậy súc vật Nguyễn Lân Thắng đã làm được cái gì cho đất nước này ngoài việc chỉ biết xuyên tạc và chém gió???


Nhìn cái mặt của thằng cờ hó này chỉ muốn nện cho hắn một trận cho chừa cái thói mất dạy, bán nước, phá nước!


 

Một số lý thuyết về toàn cầu hóa hiện nay!

Trần Ái Quốc - Nghiên cứu kinh tế "Lịch sử toàn cầu hóa và một số quan niệm về toàn cầu hóa hiện nay



Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế, v.v... trên quy mô toàn cầu. Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa thương mại hay "tự do thương mại" nói riêng. Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉ thấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật, công nghệ, thông tin, văn hoá.


1.Lịch sử của toàn cầu hóa


- Toàn cầu hoá, theo nghĩa cổ điển, đã bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ 15, sau khi có những thám hiểm hàng hải quy mô lớn. Cuộc thám hiểm lớn lần đầu tiên vòng quanh thế giới do Ferdinand Magellan thực hiện vào năm 1522. Cũng như việc xuất hiện các trục đường trao đổi thương mại giữa châu Âu, châu Á, châu Phichâu Mỹ không phải là hiện tượng gần đây. Cụ thể là, vào thế kỷ XV, sau khi Crixtôp Côlông tìm ra châu Mỹ, các nước phát triển nhất ở châu Âu thời bấy giờ đã tiến hành ồ ạt các cuộc chinh phục đối với phần thế giới mới được khám phá ấy. Tiếp đó, từ giữa thế kỷ XIX trở đi, châu Âu đã chinh phục hàng loạt các nước châu Á và biến vùng đất rộng lớn, rất giàu tài nguyên thiên nhiên này thành thuộc địa, thành nơi cung cấp nguyên liệu cho chính quốc, thành thị trường béo bở mang lại lợi nhuận cao. Suốt hàng thế kỷ, người Anh, người Bồ Đào Nha, người Pháp đã có mặt ở nhiều thuộc địa đến mức, như người ta thường nói, là mặt trời không bao giờ lặn trên lãnh thổ đế quốc Anh.


- "Thời kỳ đầu của toàn cầu hoá" rơi vào thoái trào khi bắt đầu bước vào Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, và sau đó sụp đổ hẳn khi xảy ra khủng hoảng bản vị vàng vào cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930.


- Trong môi trường hậu Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thương mại quốc tế đã tăng trưởng đột ngột do tác động của các tổ chức kinh tế quốc tế và các chương trình tái kiến thiết. Kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các Vòng đàm phán thương mại do GATT khởi xướng, đã đặt lại vấn đề toàn cầu hoá và từ đó dẫn đến một loạt các hiệp định nhằm gỡ bỏ các hạn chế đối với "thương mại tự do". Vòng đàm phán Uruguay đã đề ra hiệp ước thành lập Tổ chức thương mại thế giới hay WTO, nhằm giải quyết các tranh chấp thương mại. Các hiệp ước thương mại song phương khác, bao gồm một phần của Hiệp ước Maastricht của châu Âu và Hiệp ước mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) cũng đã được ký kết nhằm mục tiêu giảm bớt các thuế quan và rào cản thương mại. Từ thập kỷ 1970, các tác động của thương mại quốc tế ngày càng rõ rệt, cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực.


Kể từ buổi đầu của thời kỳ phong kiến, biên giới kinh tế, chính trị và văn hóa giữa các quốc gia trở nên khó bền vững hơn mặc dù độc lập lãnh thổ và bản sắc riêng của mỗi dân tộc vẫn được tôn trọng và bảo vệ. Với sự hợp tác quân sự của các nước Đồng minh trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Thế giới thứ II và những phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, giao thông và thông tin từ nửa sau thế kỷ 20, thế giới dường như được thu hẹp lại về cả thời gian lẫn không gian cho dù còn nhiều nơi và dân tộc khác vẫn còn cô lập với thế giới hiện đại. Lần đầu tiên vào năm 1944, từ điển Merriam Webster đã công nhận động từ «toàn cầu hóa» (globalize) như một từ tiếng Anh có nghĩa.


- Với lý thuyết về dịch chuyển lao động và sự phát triển của thuyết tự do mới, các tác giả như Mittelman (2000) hay Giáo sư Dapice (2002) cho rằng toàn cầu hóa đã trải qua ba thời kỳ chính. Thời kỳ thứ nhất xuất hiện cách đây khoảng 5.000 năm khi một số nhóm người đã bắt đầu vượt khỏi biên giới của bộ tộc hay lãnh thổ của mình để xâm chiếm dân tộc khác, hay chỉ để trao đổi hàng hóa và tìm nơi định cư mới. Thời kỳ thứ hai bắt đầu cùng với sự ra đời của chủ nghĩa thực dân, tư bản và công nghiệp hóa xảy ra cách đây khoảng 400 năm và kéo dài đến thập niên 1970. Trong suốt thế kỷ 18, thế giới đã chứng kiến một sự di dân ồ ạt của khoảng 10 triệu nô lệ da đen sang các nước thực dân và các nước thuộc địa của Anh và Pháp đang bị khai thác do tình trạng thiếu lao động ở các nước này. Đầu những năm thế kỷ 20, hàng triệu người đổ xô đến các “vùng đất hứa” ở Mỹ hay Úc để đào vàng. Nguyên nhân chính vẫn là do sự đói nghèo, sự đe dọa về chiến tranh và hạn chế về cơ hội nghề nghiệp ở các nước châu Âu. Đến những năm 1960, Mỹ bắt đầu vươn mình trở thành siêu cường quốc sau Thế chiến thứ hai, và thế giới một lần nữa chứng kiến sự di chuyển ào ạt lực lượng lao động có kỹ năng và bán kỹ năng từ các nước châu Âu sang Bắc Mỹ, gây ra chảy máu chất xám đến mức Liên Hợp Quốc phải lên tiếng báo động vào năm 1967.


Trong thời kỳ thứ ba xảy ra kể từ những năm 1970, các nước tư bản phải đối phó với sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods (được 44 quốc gia thành lập vào năm 1944 và chấm dứt hoạt động vào tháng 8 năm 1971 do lạm phát kéo dài của nền kinh tế Mỹ trong suốt thời kỳ chiến tranh tại Việt Nam kéo theo sự tuột giá của đô-la Mỹ), và sự khủng hoảng năng lượng nghiêm trọng xảy ra tại châu Âu. Các nước đã và đang phát triển đã phải áp dụng các chiến lược phát triển kinh tế mới, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật và tận dụng đồng vốn đầu tư từ nước ngoài và tư nhân. Những khái niệm cô lập các hoạt động kinh tế từ thập niên 60 để bảo vệ nền kinh tế nội địa ở các nước đang phát triển bắt đầu bị phê bình. Các nhà kinh tế thuộc trường phái tự do mới (với cao trào xuất hiện vào những năm cuối thập niên 70) tin rằng giữa các quốc gia, bất kể là nước giàu hay nghèo, đều có chung những qui luật phát triển kinh tế. Theo quan điểm này, chính phủ các nước phải giảm vai trò kiềm chế cứng nhắc của mình trong các hoạt động kinh tế, đồng thời khuyến khích tự do mậu dịch và áp dụng các qui tắc về lợi thế so sánh. Mặc dù quan điểm tự do mới bị chỉ trích gay gắt về tính nhân văn trong cạnh tranh kinh tế bởi những học giả hậu cấu trúc luận, thời kỳ này được xem là giai đoạn chuyển tiếp của toàn cầu hóa sang một bước phát triển mới kể từ sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ và thế giới được sắp xếp lại theo một bố cục mới.


Theo quan điểm về sự phát triển của chủ nghĩa thực dân, một số nhà lịch sử cho rằng hiện tượng toàn cầu hóa trải qua ba thời kỳ với lần một xảy ra vào thế kỷ 16, lần hai vào thế kỷ 19, và lần ba kéo dài trong những năm cuối thế kỷ 20. Cả hai làn sóng đầu tiên đều xuất phát từ tham vọng bành trướng đất đai của những người lãnh đạo châu Âu. Hiện tượng này đã dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa thực dân đầu tiên ở Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, kế tiếp đến Anh và Pháp. Sự kiện lịch sử quan trọng nhất giữa hai giai đoạn này là việc thực dân châu Âu xâm chiếm châu Mỹ, Úc và Phi; khiến người Mayas, Aztecs và thổ dân Aborigines ở Úc mất hết đất đai và trở thành nô lệ cho người da trắng. Những nước kém phát triển khác như Việt Nam, Ấn Độ, Ma-lay-xi-a, In-đô-nê-xi-a, An-giê-ri, Ma-rốc… trở thành thuộc địa của Anh và Pháp. Với những thành quả của cách mạng công nghiệp lần thứ nhất của Anh vào nửa cuối thế kỷ 18, giai cấp tư bản châu Âu trở thành lực lượng chủ yếu thúc đẩy tiềm lực kinh tế trong xã hội bên cạnh việc bần cùng hóa giai cấp vô sản. Sự phân biệt giàu nghèo xảy ra không chỉ tại các nước tư bản thực dân mà còn tạo nên sự cách biệt thu nhập trên thế giới. Ví dụ, vào cuối những năm 1890 thu nhập bình quân của các nước Tây Âu cao hơn các nước Đông Âu gấp 80%. Cuối thế kỷ 19, Anh từng tự hào với sức mạnh quân đội của họ, và cho rằng Mặt trời chưa bao giờ lặn ở Anhkhi thuộc địa của họ trải rộng khắp nơi trên địa cầu. Vào những năm 1800, châu Âu chiếm được khoảng 35% lãnh thổ trên thế giới, và con số này tăng lên 67% vào năm 1878 và 85% năm 1914. Tuy vậy, thực dân phương Tây vẫn luôn đối mặt với các sự phản kháng mãnh liệt từ các nước thuộc địa, gây ra biết bao thiệt hại về con người và vật chất. Thật vậy, trong những năm 1910 chiến tranh đã cướp đi sinh mạng của 38 triệu người. Chiến tranh Thế giới thứ nhất không phải là liều thuốc giải quyết chiến tranh, mà nó đã tạo nên một thế giới bị tàn phá thảm hại ngay sau đó.


 Nếu nói theo lý thuyết về sự phát triển thương mại quốc tế và các tổ chức kinh tế quốc tế, các nhà kinh tế - sử học khác cũng phân chia quá trình phát triển của toàn cầu hóa dựa trên bốn giai đoạn lịch sử kể từ thế kỷ 14. Giai đoạn một bắt đầu từ những năm 1350 khi mạng lưới thương mại, trao đổi động vật, hàng hóa (gồm vải vóc, đồ gốm sứ, hồ tiêu, quế…) giữa châu Âu và Trung Quốc phát triển mạnh. Mạng lưới này kéo dài từ Pháp và Ý dọc theo biển Địa Trung Hải đến Ai Cập, và sau đó theo đường bộ xuyên khắp Trung Á đến Trung Quốc. Thương mại đường biển cũng kéo dài từ biển Đỏ, qua Ấn Độ Dương, vòng qua eo Malacca đến bờ biển Trung Quốc, và nó phát triển mạnh từ những năm cuối thế kỷ 15 khi châu Mỹ được tìm ra một cách tình cờ trong quá trình tìm ra một con đường tơ lụa bằng đường biển của thực dân châu Âu cũ. Trao đổi thương mại giữa các quốc gia trong thời kỳ này được sự bảo hộ của quân đội nhà nước để tránh việc cướp bóc. Bù lại, các thương nhân phải trả thuế mỗi khi họ vận chuyển ngang một vùng lãnh thổ mới. Giao thương trong thời kỳ này được xem như “chuỗi ngọc trai” khi từng phần địa lý kết nối lại để tạo nên hệâ thống kinh thương quốc tế.


Giai đoạn hai bắt đầu từ năm1500 đến 1700 khi các nhà cầm quyền châu Âu (điển hình là Bồ Đào Nha, sau này liên kết với Hà Lan, Pháp và Anh) xâm chiếm châu Phi. Với hệ thống hải quân mạnh mẽ họ có thể bắt buộc các thương nhân trả thuế dọc tuyến đường Ấn Độ Dương. Đến những năm1700, trao đổi hàng hóa trên thế giới trở nên chuyên nghiệp hơn khi một số thương nhân và chính phủ châu Âu đã sáng lập ra các công ty thương mại vận tải biển đầu tiên để mua bán sỉ và lẻ có huê hồng theo tuyến Âu - Á. Thời kỳ thứ ba bắt đầu vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 khi khoa học kỹ thuật với hệ thống đường sắt và tàu thủy hơi nước phát triển, đã giúp cho con người tiến lại gần nhau hơn. Nhưng đồng thời, châu Âu dần dần mất vai trò kiểm soát châu Mỹ, đầu tiên ở phía Bắc, sau lan rộng đến miền Nam nước này. Với cuộc cách mạng giành độc lập ở Mỹ với Hiệp ước Vec-xai năm 1783, các cuộc phản kháng ở Haiti và Pháp, các nước thuộc địa bắt đầu nhận thức rõ hơn về quyền độc lập lãnh thổ và kinh tế của họ. Trong suốt thời kỳ này, chính phủ phải giữ vai trò điều hành kinh tế thông qua các đạo luật thương mại. Từ thời kỳ Thế chiến thứ hai kéo dài đến giai đoạn hậu Chiến tranh lạnh, các nước tư bản, và kể cả các nước kém phát triển, mới bắt đầu bước lại gần nhau trong lĩnh vực hợp tác kinh tế và cho ra đời hàng loạt các tổ chức quốc tế và khu vực.


Một quan điểm khác cho rằng toàn cầu hóa trải qua ba thời kỳ. Lần thứ nhất xảy ra từ năm 1870 đến 1914 khi có khoảng 60 triệu người (chiếm 10% lực lượng lao động trên thế giới lúc đó) di cư từ châu Âu đến Mỹ để tìm vàng, hay để tìm cuộc sống tốt hơn ở vùng đất mới được khám phá này. Sự di cư này càng kích thích sự phát triển của giao thông và thông tin, khiến cho hàng hóa, sức lao động và tiền bạc được di chuyển giữa các quốc gia. Làn sóng thứ hai xảy ra từ năm 1950 đến 1980 khi Thế chiến thứ II kết thúc, và kinh tế - chính trị thế giới được phân chia thành hai cực: tư bản và xã hội chủ nghĩa. Bộ ba Mỹ, Tây Âu và Nhật đã liên kết chặt chẽ để đẩy mạnh kinh tế tư bản lên một tầm mới thông qua các tổ chức quốc tế và các vòng đàm phán thương mại như GATT (Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch, và vòng đàm phán Uruguay của GATT kéo dài trong 8 năm từ 1986 đến 1994 đã dẫn đến hiệp ước thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO) hay IMF (Quỹ Tiền tệ Quốc tế). Bên cạnh đó, trong thời kỳ từ những năm 1950 đến 1960, các tập đoàn công nghiệp lớn trên thế giới cũng bắt đầu mở rộng phạm vi hoạt động của họ vào các nước đang phát triển không thuộc khối xã hội chủ nghĩa, đặc biệt ở các nước Mỹ La-tinh. Kể từ sau những năm 1980 được xem là thời kỳ thứ ba của toàn cầu hóa khi các quốc gia đã bắt đầu ký kết các hiệp định song và đa phương về mặt kinh tế thông qua sự điều hành của các tổ chức quốc tế, mà điển hình là WTO. Nhìn chung trong thời kỳ này các công ty đa quốc gia dần dần có ảnh hưởng mạnh đến vai trò điều hành của các chính phủ.


2. Quan niệm về toàn cầu hóa


Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos (Thụy Sĩ) vào tháng 1 năm 1999 đã khẳng định toàn cầu hóa không còn là một xu thế nữa, mà nó trở thành một thực tế mang nhiều cơ hội và thách thức cho các quốc gia. Một trong những ví dụ nổi bật của toàn cầu hóa là sự hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ ngoại giao của các quốc gia. Tiến trình này đã thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế trên thế giới với sự gia tăng GDP toàn cầu từ 2,7 lần vào nửa đầu thế kỷ 20 đến 5,2 lần vào nửa cuối thế kỷ 20, và tốc độ tăng trưởng GDP thế giới đạt đến 3,6%/năm. Ví dụ như đối với Việt Nam, chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 167 nước, có quan hệ thương mại với 160 nước, và có thể thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty và tập đoàn kinh tế của hơn 70 quốc gia. Ngoài ra, sự ra đời của các tổ chức quốc tế trong kinh tế, văn hóa, an ninh hay giáo dục ví dụ như WTO, ASEAN, APEC, ASEM, EU, UN, UNESCO, v.v... hay các khu vực thương mại tự do (FTA) và các thỏa thuận thương mại khu vực (RTA) là những minh chứng của tiến trình này. Sự hợp tác kinh tế và sản xuất quốc tế được thể hiện trong một ví dụ cổ điển khác của việc sản xuất máy bay Airbus. Đôi cánh của Airbus được sản xuất tại Anh, thân và đuôi của Đức, cửa máy bay do Tây Ban Nha sản xuất, và Pháp chịu trách nhiệm thiết kế buồng lái và công đoạn lắp ráp cuối cùng. Ngoài ra, Airbus còn ký hợp đồng với 27 quốc gia khác để sản xuất các thiết bị cần thiết, với khoảng 35% các chi tiết trong máy bay do hơn 500 công ty của Mỹ cung cấp.


- Có nhiều định nghĩa và quan điểm khác nhau về toàn cầu hóa và quá trình phát triển của nó mặc dù nhiều người vẫn hay cho rằng toàn cầu hóa giống như quốc tế hóa ở sự phát triển mạnh mẽ của các lực lượng sản xuất và sự hợp tác xuyên quốc gia của các nước trong lĩnh vực kinh tế. Tiến trình này cũng được xem như hệ quả tất yếu của sự phát triển vượt bậc về số lượng và chất lượng của lực lượng sản xuất và sự tương tác kinh tế quốc tế. Tuy nhiên không chỉ đơn thuần là sự xích lại gần nhau của các nước, toàn cầu hóa là tiến trình bao gồm một hoặc hàng loạt các sự kiện và hoạt động về kinh tế, chính trị, văn hóa hay môi trường trên thế giới có tác động vừa tích cực lẫn tiêu cực giữa các quốc gia. Đây được xem như là kết quả của sự phát triển sản xuất và phân công lao động trên bình diện quốc tế.Những tác động này đã và đang làm thay đổi cấu trúc và quan hệ xã hội, trật tự thế giới và gia tăng mối quan hệ về kinh tế, chính trị và xã hội quốc tế.


- Nhìn chung có ba quan điểm khác nhau về hiện tượng toàn cầu hóa. Hầu hết các quốc gia đều xem đây là một hiện thực mới trong thời kỳ cạnh tranh kinh tế quốc tế mà các cá nhân, tập đoàn kinh tế và chính phủ phải chấp nhận tìm cách đối phó và khai thác lợi ích của nó. Nhờ vào những sự phát triển của công nghệ, truyền thông và giao thông nên con người, hàng hóa, ý tưởng và đồng vốn có thể dịch chuyển xuyên quốc gia. Theo quan điểm này, toàn cầu hóa cũng được xem như một cơ hội và thách thức cho các quốc gia đang phát triển trong việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ và các nguồn tài chính hai chiều với các quốc gia phát triển. Những phát minh và chuyển giao công nghệ về thông tin và giao thông cũng đã nhanh chóng đem lại nhiều lợi ích to lớn cho việc phát triển cơ sở hạ tầng, giao lưu kinh tế và kiến thức mới cho các quốc gia đang phát triển.


-Tuy nhiên, một số học giả như Pierre Bourdieu, Namoi Klien hay Loic Wacquant từng lên tiếng chỉ trích tiến trình toàn cầu hóa, cho rằng nó là quá trình “Mỹ hóa” (Americanization) hay bề mặt của chủ nghĩa đế quốc mới của Mỹ và các nước tư bản phương Tây. Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, Mỹ trở thành siêu cường quốc trên thế giới và các nước khác dường như máy móc lấy các kiểu mẫu hay chính sách của Mỹ để làm thước đo chuẩn mực cho riêng mình hay cho các hoạt động kinh tế quốc tế. Theo quan điểm bảo thủ của họ, chúng ta dường như quá lạm dụng những mỹ từ mới như “toàn cầu hóa”, “đa văn hóa”, “thời đại mới” hay “hậu hiện đại”, nhưng lại thiếu những hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa tư bản, hay bất công và phân tầng trong xã hội. Họ tranh cãi rằng các tổ chức toàn cầu – đa phương như Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Cộng đồng chung châu Âu (EU)… chẳng qua là những tổ chức do các cường quốc sáng lập, và là phương tiện để họ bảo vệ lấy mình, thực thi quyền lực và ảnh hưởng lên các nước đang phát triển ở vị trí ngoại vi. Các tập đoàn quốc tế này đang thao túng sự cô lập biên giới kinh tế và chính trị giữa các quốc gia, làm mờ nhạt vai trò của nhà nước và chính phủ. Thật ra, mặc dù quan điểm của các học giả này là bênh vực các nước nghèo đến mức thái quá trong cuộc chạy marathon không cân sức này, họ vẫn đúng khi cả thế giới đang ở đỉnh cao của sự phân cực. Ví dụ, theo một báo cáo của UNDP (Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc) năm 1997, tỷ lệ chênh lệch thu nhập giữa 20% dân số thế giới ở các nước giàu và 20% ở các nước nghèo là 1:30 vào năm 1960, 1:60 năm 1990 và 1:74 vào năm 1997. Vào năm 1985, thu nhập bình quân tính theo đầu người ở các nước giàu gấp 76 lần so với các nước nghèo. Nhưng đến năm 1997, chỉ số này tăng lên 288 lần. Hiện nay 3 tỷ người trên thế giới có mức sống dưới 2 USD/ngày, và 1,3 tỷ người có thu nhập dưới 1 USD/ngày.


- Một quan điểm khác về toàn cầu hóa mang tính trung lập. Họ gồm những nhóm người ít quan tâm đến hiệu ứng của hiện tượng này, và họ xem tiến trình này như một sự phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại và ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống con người. Một quan điểm đáng trân trọng của những học giả thuộc trường phái này là họ đang cố gắng lên tiếng bênh vực những nhóm người bất lợi về mặt sinh lý, địa lý, xã hội, giáo dục, tôn giáo, thu nhập và dân tộc. Đây là những người ít có tiếng nói hay cơ hội tiếp xúc với thế giới hiện đại, và vì thế họ không thể trực tiếp tham gia vào tiến trình này. Nhưng đồng thời vẫn có các tổ chức và cá nhân khác cố gắng bênh vực họ thông qua các tổ chức nhân đạo, phi chính phủ, các diễn đàn thế giới dành cho người nghèo, người khuyết tật… Những hoạt động của các tổ chức này đang được sự đồng tình của cộng đồng thế giới, và họ dần dần có tiếng nói mạnh mẽ trên trường kinh tế và chính trị quốc tế. Theo quan điểm này, toàn cầu hóa không còn là một xu thế phát triển một chiều từ các quốc gia đã phát triển áp đặt lên các nước đang phát triển nữa. Thật ra, tiến trình này đã có khuynh hướng di chuyển đa chiều giữa các quốc gia.


- Nói chung, toàn cầu hóa được đề cập nhiều trong lĩnh vực kinh tế vì đây là quá trình làm gia tăng mối quan hệ, tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia. Nó thường được xem như là sự tự do hóa các hoạt động kinh tế và thương mại quốc tế với sự điều hành của chính phủ từng quốc gia và các tổ chức quốc tế. Một đặc điểm nổi bật của hiện tượng này là sự dịch chuyển (hay còn gọi là «dòng chảy») của bốn yếu tố: hàng hóa - dịch vụ, di - nhập cư, khoa học kỹ thuật và tiền tệ (ở dạng đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI) trong giai đoạn tự do thương mại (cho dù không phải là tự do hoàn toàn).  


- Quan điểm thứ nhất Trong Báo cáo phát triển con người Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 cho rằng: toàn cầu hoá là một quá trình có tính nhiều mặt, bao gồm tăng trưởng thương mại quốc tế, các luồng lao động, vốn và công nghệ cũng như sự giao lưu ý tưởng và cách sống… ảnh hưởng của toàn cầu hoá đến vấn đề văn hoá phụ thuộc rất nhiều vào tính chất của các chính sách của các chính phủ đối với quá trình toàn cầu hoá (1, tr.22).


          - Theo quan điểm thứ hai trong Tạp chí Triết học, số 3, 5/2003 thì toàn cầu hoá được nói đến trước hết và chủ yếu là toàn cầu hoá kinh tế. Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, xu thế này đang bị một số nước phát triển và một số tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh, vừa tạo ra những cơ hội cho sự phát triển nhưng cũng vừa có những thách thức đối với các quốc gia, nhất là các quốc gia đang ở trình độ kém phát triển (2, tr.5).


Hay trong Những vấn đề của toàn cầu hoá kinh tế, Nguyễn Văn Dân (chủ biên), Nxb. KHXH. Hà Nội, 2001 “Toàn cầu hoá là một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau do tính năng động của việc buôn bán hàng hoá và dịch vụ cũng như do tính năng động của sự lưu thông vốn tư bản và công nghệ”(3, tr.78).


          - Việt Nam trong thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, Cũng có học giả cho rằng toàn cầu hoá hiện nay chỉ là một khái niệm của một quá trình đã tiếp diễn từ lâu, một sự mở rộng không gian của phương thức kinh tế tư bản đến tận cùng của thế giới (4, tr.565).


          Mặc dù được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, với những mục đích khác nhau nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng toàn cầu hoá trước hết là khái niệm dùng để chỉ toàn cầu hoá về kinh tế, sau đó nó tác động ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác.


          Chúng ta biết rằng từ xa xưa đến nay, con người muốn sống và tồn tại được thì buộc phải giải quyết rất nhiều vấn đề khác nhau do cuộc sống đặt ra. Vấn đề đó có thể chỉ liên quan đến một cộng đồng người nhưng cũng có thể liên quan đến nhiều cộng đồng người khác nhau. Tuy nhiên, chỉ có ở thời đại ngày nay thì một số vấn đề được coi là cốt tử đối với sự tồn tại và phát triển ổn định của toàn thể loài người mới xuất hiện. Những vấn đề này được gọi là những vấn đề toàn cầu. Theo M.Maksimova, những vấn đề được coi là vấn đề toàn cầu phải có những đặc trưng sau:


+ Thực sự mang tính chất toàn hành tinh, liên quan đến lợi ích toàn nhân loại; Đe doạ cả loài người tụt hậu trong bước phát triển tiếp của LLSX và cả trong những điều kiện của cuộc sống; Cần có những giải pháp và hành động không thể trì hoãn trên bình diện toàn hành tinh để khắc phục mọi mối đe doạ đối với con người; Đòi hỏi nỗ lực tập thể từ phía tất cả các quốc gia và toàn thể cộng đồng thế giới (5, tr.212).


Chẳng hạn như: vấn đề an ninh lương thực, an ninh năng lượng, môi trường, các cuộc xung đột vũ trang, khủng bố, tệ nạn xã hội và tội ác, vấn đề phát triển kinh tế toàn cầu…


          Với cách tiếp cận này thì toàn cầu hoá được hiểu là: xã hội loài người đã ở vào giai đoạn mà sự phát triển của các nền kinh tế đòi hỏi những phương thức hoạt động và điều hành mới ở cấp độ toàn cầu; sự nảy sinh và tồn tại những vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với toàn nhân loại đòi hỏi sự giải quyết ở cấp độ toàn cầu; nguyện vọng muôn thủa của con người được sống trong một thế giới hoà bình, nhân ái và hạnh phúc cần được đáp ứng ở cấp độ toàn cầu – tất cả là yêu cầu vừa là điều kiện để cho tất cả các quốc gia, các dân tộc liên kết với nhau trong một toàn thể đồng thuận trong đó mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều tự do lao động, sáng tạo, sản xuất kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau để cùng nhau tiến bộ, rút bớt khoảng cách giữa nhau. Và để đạt được mục đích đó, tất cả những tự do trên đây đều được đặt trong khuôn khổ những nhìn nhận chung, những quy ước và thể chế chung được lập ra vì lợi ích của toàn cầu. Ta gọi đó là toàn cầu hoá.


Toàn cầu hóa, về thực chất, là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới, hay nói như C. Mác, là quá trình lịch sử biến thành lịch sử thế giới. Toàn cầu hóa là giai đoạn mới, giai đoạn phát triển cao của quá trình quốc tế hóa đã diễn ra từ nhiều thế kỷ trước đây. Hình thức biểu hiện đầu tiên của toàn cầu hoá đó chính là toàn cầu hoá kinh tế. Sự xuất hiện xu thế toàn cầu hóa kinh tế bắt nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, từ tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất trên phạm vi quốc gia và quốc tế, từ nền kinh tế thị trường thế giới. Sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với quá trình biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sự phát triển của các công nghệ cao (công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ vũ trụ...) đã làm thay đổi về chất lực lượng sản xuất của loài người, đưa loài người từ nền văn minh công nghiệp lên văn minh tin học, từ cơ khí hóa sản xuất lên tự động hóa, tin học hóa sản xuất. Cách mạng khoa học và công nghệ đang tạo ra những biến đổi căn bản và sâu sắc không những trong công nghệ, trong sản xuất, mà còn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. C. Mác và Ph. Ăng - ghen đã vạch rõ : "Vì luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư sản xâm lấn khắp toàn cầu. Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi... Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới..."(6, tr.601).


         Đồng thời với quá trình toàn cầu hoá kinh tế là sự ra đời của các tổ chức quốc tế và khu vực về chính trị, kinh tế, thương mại, tài chính. Trước hết phải kể đến Liên hợp quốc (UN) với 191 nước thành viên, tức là chiếm đại bộ phận các nước trên thế giới. Liên hợp quốc cùng các tổ chức trực thuộc của mình như UNDP, UNESCO, UNFPA, UNICEF, FAO... đang tác động đến tất cả các nước trên phạm vi toàn cầu. Ngoài ra là các tổ chức khác như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB)... có vai trò ngày càng tăng trong việc giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị chung của thế giới và khu vực, như giải quyết các cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Hàn Quốc, Liên bang Nga, Bra-xin... hay việc can thiệp của các tổ chức này cùng với chính phủ của nhiều quốc gia vào việc kìm hãm sự suy thoái kinh tế trong giai đoạn hiện nay của thế giới. Đến lượt mình, các tổ chức này lại thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa.


Do vậy, chúng ta không thể hiểu toàn cầu hoá một cách đơn giản, phiến diện, mà cần nhìn nhận nó như là một quá trình phức tạp, đầy mâu thuẫn, có tính chất hai mặt, chứa đựng cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực, cả thời cơ và thách thức đối với tất cả các quốc gia, trong đó các nước đang phát triển, chậm phát triển chịu nhiều thách thức gay gắt hơn:


- Về kinh tế, toàn cầu hóa tạo cơ hội cho sự phát triển kinh tế thông qua việc tự do hóa thương mại, thu hút đầu tư, chuyển giao khoa học-công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch nền kinh tế sang kinh tế thị trường. Tuy nhiên, toàn cầu hóa kinh tế có thể làm gia tăng nợ nước ngoài của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia chậm phát triển và đang phát triển. Toàn cầu hóa cũng làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, từ đó có thể hạn chế, làm suy giảm sự độc lập tự chủ về kinh tế của các nước chậm và đang phát triển. Ngoài ra, Toàn cầu hóa kinh tế cũng có thể đem đến nguy cơ ô nhiễm môi trường sinh thái do sử dụng các công nghệ lạc hậu mà các nước phát triển loại ra.


- Về chính trị, toàn cầu hoá cũng dẫn các nước chậm phát triển tới nguy cơ xói mòn quyền lực nhà nước dân tộc, thu hẹp đáng kể quyền lực, phạm vi và hiệu quả tác động của nhà nước do vai trò kinh tế của nhà nước có thể bị giảm sút bởi sự chi phối của các công ty xuyên quốc gia, bởi sức ép của IMF, WB, WTO...; đồng thời từ chỗ phụ thuộc về kinh tế sẽ dẫn đến phụ thuộc về chính trị và thậm chí, thông qua con đường trao đổi, hợp tác kinh tế, đầu tư, viện trợ, cho vay theo hướng khuyến khích tư nhân hóa, tự do hóa tư sản, các nước phát triển đứng đầu là Mỹ đã áp đặt mô hình chính trị của mình vào các nước khác, sử dụng “sức mạnh mềm”, “sức mạnh cứng” (có thể hiểu là dùng vũ lực) và “sức mạnh thông minh, khôn khéo” (là sự kết hợp “ sức mạnh cứng” và “ sức mạnh mềm”) để thay đổi các chế độ xã hội ở đây theo hướng thân phương Tây.


- Về văn hóa - tư tưởng, toàn cầu hóa một mặt tạo điều kiện cho việc mở rộng giao lưu quốc tế, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc; tạo điều kiện cho việc tiếp thu những thành tựu của văn hóa nhân loại cũng như phổ biến và khẳng định bản sắc văn hóa của dân tộc mình, đồng thời nó cũng tạo điều kiện cho việc hiện đại hóa và làm phong phú nền văn hóa của dân tộc; mặt khác, nó cũng là nguy cơ làm mai một bản sắc văn hóa dân tộc. Thông qua toàn cầu hóa, lối sống thực dụng, vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân, "văn hóa phẩm" độc hại dễ dàng được du nhập, đặc biệt là thông qua các phương tiện truyền thông. Hiện nay, dưới ảnh hưởng của công nghệ thông tin, ý thức hệ của Mỹ, lối sống Mỹ, văn hóa Mỹ, phim ảnh Mỹ, đồ ăn thức uống Mỹ... đang được truyền bá rộng khắp thế giới đến nỗi một số người coi toàn cầu hóa là "Mỹ hóa toàn cầu", là sự đồng nhất hóa các hệ giá trị văn hóa với nguy cơ xuất hiện của nền “văn hóa đồng phục” đang đe dọa, làm hạn chế khả năng sáng tạo, sự đa dạng và phong phú của các nền văn hóa khác trên thế giới. Đó chính là toàn cầu hóa văn hóa. Tuy nhiên cũng vẫn còn nhiều cách nhìn nhận khác nhau về toàn cầu hóa văn hóa.


Nhưng có thể khẳng định rằng bên cạnh quá trình toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra như là một xu thế tất yếu và đang trở thành đề tài sôi nổi và nóng bỏng trên toàn thế giới, thì chúng ta còn nhận ra một trào lưu toàn cầu hóa khác, thậm chí còn quyết liệt hơn, sâu sắc hơn, đó là toàn cầu hóa về văn hóa. Với tính đặc thù và tính độc lập tương đối của mình, quá trình toàn cầu hoá văn hoá diễn ra gần song song với toàn cầu hoá nói chung, và toàn cầu hoá về kinh tế nói riêng. Trên cơ sở sự tăng cường mạnh mẽ của toàn cầu hoá kinh tế; sự tăng cường mạnh mẽ của các thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là giao thông và viễn thông; sự tăng cường giao lưu ảnh hưởng và xích lại gần nhau giữa các dân tộc, các quốc gia, khiến văn hoá các dân tộc có nhiều cơ hội giao lưu ảnh hưởng, cọ sát, học hỏi, chia sẻ lẫn nhau. Trong quá trình như vậy, một mặt văn hoá các dân tộc vừa phong phú, đa dạng hơn, mặt khác cũng không loại trừ sự mất mát, thui chột của các nền văn hoá, các yếu tố văn hoá đã lỗi thời, không còn sức sống cạnh tranh. Như vậy, cũng như toàn cầu hoá nói chung, mà cốt lõi của nó là toàn cầu hoá kinh tế, thì toàn cầu hoá văn hoá cũng là điều hiện hữu. Vấn đề chỉ còn là toàn cầu hoá văn hoá như thế nào, theo kiểu nào, mức độ nào mà thôi.


 Trần Ái Quốc


Danh sách tài liệu tham khảo:

 1. Báo cáo phát triển con người Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.

2. Tạp chí Triết học, số 3, 5/2003.

3. Nguyễn Văn Dân (chủ biên), Những vấn đề của toàn cầu hoá kinh tế, Nxb. KHXH. Hà Nội, 2001

4. Việt Nam trong thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.

5. Nguyễn Chí Tình, Văn hoá và Thời đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003

6.C. Mác-Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, t 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.

7. Thành Duy, Văn hoá Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá - thời cơ và thách thức, Nxb Văn hoá Thông tin, Viện Văn hoá, 2007.

8. Phạm Thái Việt, Toàn cầu hoá: Những biến đổi lớn trong đời sống chính trị quốc tế và văn hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006.

 

 

Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014

Nhục cho cái lũ Dân làm báo quá!!!

Trần Ái Quốc - Nhục cho cái lũ Dân làm báo quá!

Vẫn biết trang mạng Dân làm báo (Danlambao) là cái trang mạng trái chiều trong cái nhóm "chấy thức" anh hùng bàn phím gọi là Mạng lưới blogger Việt Nam luôn có những tay bồi bút chuyên viết những bài bới móc và xuyên tạc lịch sử một cách trắng trợn, bên cạnh đó chúng còn bày những trò buồn cười không ai có thể nhịn nổi như bày trò vu cáo công an bóp vú nữ sinh Phương Uyên, hay mới đây là trò "Không bán nước" và lại tiếp diễn chiêu trò tự thiêu để thể hiện lòng yêu nước, phản đối chính quyền cộng sản Việt Nam.


Nhìn chung, nhân dân Việt Nam quá thấu hiểu về bản chất lưu manh của nhóm chấy thức nổi loạn muốn lợi dụng nước ngoài để hoạt động chính trị cũng như chẳng có nhân cách nghề nghiệp khi viết báo mạng mà chuyên môn bịa đặt, xuyên tạc một cách trắng trợn những sự thật về lịch sử, ngay cả việc bị chửi nhiều quá, bị cả chính quyền cộng sản Việt Nam chặn blog nhưng chúng vẫn mặt dày tiếp tục các hoạt động tuyên truyền nhằm kiếm các khoản tài trợ từ Việt Tân và các tổ chức phản động lưu vong khác của nhóm cờ 3 que ngày xưa cũ.


Mới đây nhất là việc trang mạng này đưa một tin vô cùng giật gân rằng "Thêm người tự thiêu phản đối giàn khoan 981?" tưởng xảy ra ở Việt Nam, người thật việc thật, hóa ra xảy ra tại một xứ xa xôi nào đó không ai biết, điều đáng nói là không biết người đàn ông tự thiêu đó là ai, có quan hệ gì với Việt Nam hay không? tự thiêu về mục đích gì thì không ai biết, chỉ biết là Danlambao đưa lên một nhận định rằng người đàn ông đó tên Hùng, hình như là Việt Kiều sống ở  Manatee, thuộc bang Florida, Mĩ. Người đàn ông nay đã 71 tuổi và ở hiện trường vụ việc, người đàn ông này để lại hai tờ giấy viết tay ghi: "Haiyang 981 phải rời khỏi hải phận Việt Nam" và "Anh hùng tử chí hùng nào tử".


Và đây là tờ giấy đó:


Điều buồn cười ở chỗ nhìn vào ký tự chữ viết trên tờ giấy bằng mắt thường cũng có thể nhận biết được rằng đây không phải là chữ của cùng một người viết. Lý do đó là quý độc giả quan sát chữ G ở phần in đậm và chữ g ở phần viết thường rất khác nhau, hơn nữa dấu hỏi ở chữ TỬ trong phần viết thường và dấu hỏi ở chữ Hải phần in đậm không hề giống nhau, Hơn nữa, để thể hiện khí tiết khi tự thiêu tại sao người này lại không viết bằng một kiểu bút và một kiểu ký tự? điều này cho thấy rằng đây là một trò trẻ con, ngụy trang một cách đáng xấu hổ, nhằm mục đích gì thì bản chất của cái gọi là Danlambao đã thể hiện quá rõ, Ái tôi không cần phải nhắc lại.


Những dấu hiệu lật tẩy nội dung của tờ giấy do danlambao đưa lên:

hyLà những con dân của dân tộc Việt Nam, chúng tôi vô cùng biết ơn đối với kiều bào đang sống và làm việc nước ngoài luôn quan tâm đến tình hình đất nước, những đóng góp của quý đồng bào hải ngoại là những động lực vô cùng to lớn và quan trọng để Đảng và Nhà nước Việt Nam có thể thực thi được chính nghĩa, bảo vệ được chủ quyền biển Đảo, nhưng những hành động như tự thiêu là những hành động không nên vì nó sẽ gây nên nỗi đau đối với gia đình của quý đồng bào, vì vậy hãy thể hiện lòng yêu nước của mình một cách đúng đắn. Hơn nữa, việc đưa tin xuyên tạc của danlambao cũng đã vạch trần bản chất xấu xa, bản thỉu của lũ chất thức diễn nghĩa, hành động này với mưu đồ cổ vũ cho cờ vàng và các hoạt động chính trị phản động. Qua những bằng chứng này, hy vọng các vị chấy thức danlambao rút kinh nghiệm để lần sau diễn cái gì thì cũng nên ngụy trang cho nó phù hợp và đúng sự thật hơn.


Giữa lúc dân tộc đang nước sôi lửa bỏng, chẳng có cớ gì để kêu gào là yêu nước ngoài việc vu khống công an cộng sản bắt bớ lũ bại não dân chủ và bày những trò tự thiêu nhảm nhí, không hiểu lúc này lòng yêu nước của lũ chấy thức các vị để hết ở đâu rồi????


Trần Ái Quốc

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

Việt Nam nên làm gì trước động thái mới của Trung Quốc trên biển Đông?

Trần Ái Quốc - Trung Quốc không chỉ đưa mỗi cái giàn khoan HD981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam mà chúng còn triển khai thêm 4 giàn khoan nước sâu nữa trên biển Đông, vấn đề là những giàn khoan này sẽ được neo đậu ở đâu? Có vào khu vực thuộc chủ quyền Việt Nam không? Hay vào Philippin, Hay vào biển Hoa Đông? hay chỉ là động thái nhát ma của Trung Quốc? Tất cả các khả năng đều có thể xảy ra, và chúng ta, nhân dân của đất nước Việt Nam anh hùng đang ngày ngày dõi theo những biến động hết sức căng thẳng trên biển Đông và chờ đợi một mệnh lệnh của thời đại, một mệnh lệnh để nếu Trung Quốc không ngay lập tức cút khỏi vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam thì ngay lập tức chúng sẽ phải trả giá như cha ông chúng đã từng phải chịu đựng sự thảm bại trong lịch sử.

Trung Quốc ồ ạt đưa thêm 4 giàn khoan vào Biển Đông

Biểu tượng xanh trong vòng tròn trắng là vị trí của giàn khoan Hải Dương-981. Các biểu tượng màu xanh còn lại là vị trí của 4 giàn khoan khác của Trung Quốc.


Trước sự kiện Trung Quốc triển khai thêm rất nhiều giàn khoan nước sâu trên biển Đông, các chuyên gia quân sự, chính trị quốc tế hết sức quan ngại và lo âu, những hành động vượt quá giới hạn này của Trung Quốc sẽ gây nên một cục diện hết sức căng thẳng trên biển Đông, và nếu giàn khoan thứ 2 này hiện diện trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam thì chỉ còn mỗi một khả năng cuối cùng xảy ra, đó chính là một cuộc chiến tranh vệ quốc thần thánh của dân tộc để bảo vệ chủ quyền quốc gia, cái mà trong lịch sử cha ông ta đã hy sinh cả xương máu để giữ gìn. Bởi những hành động của Trung Quốc đã vượt quá mức giới hạn cho phép của sự chịu đựng, bởi lòng dân Việt Nam đang hết sức căm phẫn và sôi sục, khắp nơi trên cả nước đã thể hiện quyết tâm của mình, thà hy sinh tất cả để giữ vững chủ quyền biển Đảo.

Chuyến thăm Việt Nam của cẩu tặc Dương Khiết Trì đã không mang lại kết quả như mong muốn, nhận định về bộ mặt của "cẩu Trì" khi sang Việt Nam chỉ nhằm cứu vãn cái danh dự đang xuống dốc vô cùng thảm hại của Trung Quốc đã đúng, các trang mạng Trung Quốc với tài cắt xén đáng kinh ngạc đã biến bộ mặt "thộn" của Dương Khiết Trì tại Việt Nam thành một bộ mặt vênh váo của một kẻ bá quyền khi trở về Trung Quốc. Trong khi các học giả chân chính của Trung Quốc đã lên tiếng khẳng định rằng Trung Quốc không hề có chủ quyền trên biển Đông đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, rằng đường 9 đoạn của Trung Quốc là cái vớ vẩn nhất quả đất, nhưng những tên cẩu tặc, hải tặc vẫn nghễnh cái mặt lên trời và tiếp tục thực hiện những hành vi đáng khinh bỉ trên biển Đông.

Với những giàn khoan mới và sự khiêu khích của Trung Quốc trên biển Đông và vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam, Việt Nam nên làm gì? Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã khẳng định "Không thể đổi chủ quyền dân tộc để lấy tình hữu nghị viễn vông", cái giá của 4 tốt, 16 chữ vàng đã trở nên quá thấm thía, Trung Quốc ngày càng ngạo ngược chẳng coi ai ra gì? và rồi đây, với những hành động của mình, ai biết Trung Quốc còn có những mưu đồ gì nữa, Việt Nam cần phải lên tiếng, cần ngay lập tức có hành động. Tướng Daniel Schaeffer-chuyên gia quân sự Pháp cho rằng Việt Nam là đất nước “trống đồng” nên các bạn hãy “gõ trống” để cả thế giới thấy được vấn đề. ASEAN cũng cần phải đoàn kết hơn để dẫn đầu cuộc vận động khắp thế giới chống lại Trung Quốc. Theo ông Việt Nam nên kiện Trung Quốc đúng như những gì Philippines đang làm, thách thức tính xác thực của “đường 9 đoạn” theo Luật quốc tế bởi “đường 9 đoạn” này cắt vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam và các nước khác.

Tướng Pháp Daniel Schaeffer trong cuộc phỏng vấn với phóng viên Dân Trí.

Ông cho rằng, Trung Quốc dù không muốn cũng đã quốc tế hóa vấn đề biển Đông, và Việt Nam nên sử dụng chính công hàm của Trung Quốc đã gửi ông Ban Ki Moon để khởi kiện Trung Quốc


Ông cũng cho rằng, Việt Nam cũng nên hỏi thêm kinh nghiệm của Philippines. Sau khi Trung Quốc phê chuẩn Công ước luật biển, vào tháng 8/2006, họ đã gửi tuyên bố loại bỏ một số trường hợp được đưa ra tòa án quốc tế, liên quan đến các vùng chồng lấn quy định đâu là vùng biển của họ và của các nước láng giềng. Nhưng tuyên bố này không thể “che chắn” cho được mọi khả năng và Philippines đã tìm ra Phụ lục số 7 của Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS) và Điều khoản 298 về khả năng đưa vụ việc ra tòa án quốc tế về Công ước luật biển.Philippines có thể kiện “đường lưỡi bỏ” Trung Quốc lên tòa án quốc tế về luật biển là bởi họ biết họ tuân thủ theo luật của Liên hợp quốc. Việt Nam nên làm điều tương tự. Trung Quốc dĩ nhiên sẽ lớn tiếng phản đối, nói rằng “Việt Nam không tôn trọng luật biển quốc tế”, nhưng Trung Quốc thừa biết họ mới là nước không tôn trọng và thừa biết các bạn, Việt Nam, cũng như Philippines và các nước khác mới là những nước tôn trọng luật biển.

Trong bài phỏng vấn mới nhất, Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam  luôn sử dụng các biện pháp hòa bình, đồng thời yêu cầu Trung Quốc tỏ thiện chí giải quyết thỏa đáng vấn đề bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế và những thỏa thuận giữa Trung Quốc - ASEAN, Trung Quốc - Việt Nam. Biện pháp pháp lý cũng được sử dụng khi cần thiết để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc. Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là lâu dài, gian khổ, đòi hỏi chúng ta phải kiên quyết, nhưng phải bình tĩnh, kiên trì nhằm đạt hiệu quả. Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện các chủ trương và giải pháp đáp ứng nguyện vọng chính đáng, tha thiết của hơn 90 triệu đồng bào ta. Chủ tịch đã nhắc lại lời của vua Lê Thánh Tông từng nói với triều thần đã được ghi rõ trong Đại Việt Sử ký toàn thư: “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước núi, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di!”.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trả lời phỏng vấn TTXVN

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: “Chúng ta không chấp nhận việc bất cứ ai, bất cứ nước nào, dù mạnh đến đâu, bắt ta phải nhượng bộ chủ quyền, lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Chúng ta kiên quyết không để một tấc đất, tấc biển nào của Tổ quốc bị xâm phạm”


Quan điểm của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã rõ, việc cần làm là chuẩn bị các phương án cần thiết, kể cả phương án xấu nhất để đối phó với tên giặc Tàu hung bạo. Bằng mọi giá, bằng mọi phương pháp chúng ta quyết không nhượng bộ chủ quyền cho Trung Quốc, cần bình tĩnh và kiên trì, nhất định chúng ta sẽ thắng!!!


Trần Ái Quốc


 

Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014

Hải tặc Trung Quốc triển khai thêm giàn khoan trên biển Đông!!!

Đưa cái chết tiệt HD981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam chưa phải là tham vọng duy nhất của Trung Quốc, mới đây Trung Quốc càng lộ rõ bản chất của một tên cướp cạn khi tiếp tục triển khai thêm một giàn khoan mới và đang lai dắt, kéo nó vào biển Đông, nơi mà HD981 đang làm mưa làm gió và thể hiện bản chất của một tên cướp biển trắng trợn nhất trong lịch sử loài người.


Giàn khoan đó là gì?

Giàn khoan Nam Hải số 9.

Đó là giàn khoan Nam Hải số 9


Theo thông tin phóng viên thu nhận được thì gian khoan này của Trung Quốc được đóng từ năm 1988, nặng 21.714 tấn. Đây là Giàn khoan  nửa chìm nửa nổi do Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ giàn khoan Trung Quốc (COSL), đơn vị trực thuộc Tổng công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC), quản lý và vận hành. Theo báo chí Trung Quốc đưa tin thì Gian khoan này đang được Trung Quốc tích cực lai dắt vào vùng biển Đông, nơi đang diễn ra tranh chấp và những hành động bạo lực, phi nhân đạo của Trung Quốc và HD981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.


Thông báo về việc di chuyển giàn khoan trên trang web của Cục Hải sự Trung Quốc.


Trang Web của Cục Hải sự Trung Quốc thông báo việc di chuyển của giàn khoan


Ngoài ra Trung Quốc đang còn tích cực đóng mới rất nhiều gian khoan dầu nước sâu nhằm thực hiện tham vọng độc chiếm biển Đông của mình. Nếu giàn khoan này xuất hiện trên biển Đông thì việc đấu tranh của Việt Nam sẽ vô cùng khó khăn, theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài Việt Nam cần có những hành động cụ thể để đối phó với những hành động phi pháp của Trung Quốc trước khi tình hình leo thang của Trung Quốc trên biển Đông ngày càng diễn biến phức tạp hơn. Đã đến lúc Việt Nam đệ đơn khởi kiện Trung Quốc ra Toàn án quốc tế.


Thế mới thấy thấm sự tàn bạo, giả nhân nghĩa của Trung Quốc và bản chất của 16 chữ vàng hảo huyền, mị dân, Trung Quốc đang hiện nguyên hình là một tên "Hải tặc", một tên cướp biển đúng nghĩa. Đã đến lúc khẳng định rõ lập trường "không thể đổi lấy chủ quyền của Tổ quốc để lấy được cái sự hòa hảo viễn vông". Hành động của Trung Quốc đang ngày càng thể hiện chủ nghĩa bá quyền một cách bẩn thỉu, ngoài việc đệ trình lên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc về vấn đề biển Đông một cách tráo trở, lật lọng và vu cáo trắng trợn Việt Nam, Trung Quốc đang tiếp diễn những hành động như lai dắt thêm giàn khoan ra biển Đông, tích cực xây dựng các bãi đá ngầm ở Trường Sa của Việt Nam, đồng thời lên tiếng vu cáo đối với Việt Nam về những hành động xuất phát từ phía Trung Quốc, Việt Nam càng nhẫn nhịn vì hòa bình chung của khu vực thì Trung Quốc càng hung hãn, không coi ai ra gì. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy "Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thì Trung Quốc càng lấn tới,...". Trung quốc hãy coi chừng hạnh động của mình, hãy biết dừng lại đúng lúc, đừng để dân tộc này nổi giận, cái giả phải trả về một Bạch Đằng hay một Điện Biên Phủ trên biển sẽ chôn thây cái giàn khoan HD981 chết tiệt cùng những tham vọng của Trung Quốc xuống đáy biển Đông.



Một cái kết có hậu cho tham vọng của Trung Quốc


Trần Ái Quốc

Thứ Tư, 18 tháng 6, 2014

Ông Dương Khiết Trì đang thể hiện điều gì tại Việt Nam?

Việt Nam - Trung Quốc nhất trí sớm ổn định tình hình Biển ĐôngÔng Dương đến Việt Nam làm gì? là người chính nghĩa sao Ông Dương không dám nhìn thẳng vào mắt của những nhà lãnh đạo Việt Nam, ánh mắt của Phó Thủ tướng Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Phạm Bình Minh cũng là ánh mắt của những người dân Việt trước những hành động ngang ngược và bành trướng đại hán của nước lớn. "Tên Hải tặc gian ác" -"Miệng nam mô bụng bồ dao găm" có lẽ là lời bình luận chính xác nhất về khuôn mặt của ông Dương khi đến Việt Nam trong ngày hôm nay!


Nhận lời mời của Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao Phạm Bình Minh, ông Dương Khiết Trì Ủy Viên Quốc vụ viện Trung Quốc đã đến Việt Nam vào ngày 18/6/2014. Đây là cuộc gặp cấp cao đầu tiên sau khi Trung Quốc đưa Giàn khoan nước sâu HD981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 Hải lý của Việt Nam bất chấp mối quan hệ trước đó rất tốt đẹp của hai nước, bất chấp pháp luật quốc tế và dư luận quốc tế. Việt Nam đã nhiều lần điện đàm và đề nghị gặp gỡ trao đổi thảo luận về vấn đề biển Đông nhưng Trung Quốc luôn tìm cớ để thoái thác, một số tướng lĩnh cao cấp của Trung Quốc còn mạnh mồm khẳng định chủ quyền vô lý của Trung Quốc đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam và đe dọa dùng vũ lực để giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo đối với vấn đề biển Đông. Có thể nói, việc một quan chức cấp cao của Trung Quốc đến Việt Nam trong bối cảnh tình hình trên thực địa tại khu vực Giàn Khoan HD981 đang cư trú bất hợp pháp vô cùng căng thẳng đã cho thấy Trung Quốc bắt đầu có những chuyển biến trong chính sách ngoại giao đối với Việt Nam, đồng thời thể hiện mưu đồ của Trung Quốc khi muốn thông qua việc này để xoa dịu tình hình quốc tế cho rằng Trung Quốc sẽ có những giải pháp có lợi cho tình hình biển Đông trong thời gian tới.


Tiếp ông Dương Khiết Trì lần này có Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao - Phó thủ tướng Phạm Bình Minh. Trong các cuộc tiếp xúc, trao đổi, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã kiên định lập trường và kiên quyết phản đối hành động ngang ngược của Trung Quốc khi đưa giàn khoan HD981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, yêu cầu Trung Quốc rút ngay giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Tuy nhiên, phía Trung Quốc vẫn thể hiện lập trường một cách chung chung, không đưa ra được khẳng định nào cho rằng sẽ giải quyết ổn thỏa vấn đề biển Đông bằng cách rút ngay lập tức giàn khoan HD981 ra khỏi vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì


Tổng bí Thư Nguyễn Phú Trọng tiếp ông Dương Khiết Trì



Tại cuộc gặp, Tổng Bí thư nhấn mạnh tính nghiêm trọng và tác động rất tiêu cực của việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng biển của Việt Nam từ đầu tháng 5 đến nay đối với nhân dân Việt Nam, cục diện quan hệ Việt-Trung và tình hình khu vực; khẳng định lập trường về chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và trên Biển Đông là không thay đổi và không thể thay đổi; đề nghị khẩn trương trao đổi để có các giải pháp sớm ổn định tình hình, tạo tiền đề cho các giải pháp cơ bản và lâu dài giải quyết các vấn đề trên biển, xuất phát từ lợi ích đại cục của hai nước, trên cơ sở các thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai nước và luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982.

Tuy nhiên ông Dương Khiết Trì chỉ gửi một vài lời cảm ơn, cảm tạ và vài nhận định chung chung, chưa đưa ra được cách giải quyết thỏa đáng vấn đề mà Việt Nam và quốc tế đang quan tâm.

Tiếp đó, tại cuộc gặp cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam -ông Nguyễn Tấn Dũng đã có cuộc gặp gỡ với ông Dương Khiết Trì, bộ mặt của "Hải tặc Dương Khiết Trì" trong 3 bức ảnh với 3 nhà lãnh đạo của Việt Nam không hề thay đổi, một thái độ trung lập và thờ ơ, thể hiện tư tưởng của một kẻ đi ăn cướp chủ quyền của nước khác rồi mang cái mặt giả nhân, giả nghĩa đến để nói dăm câu, 3 điều ba phải cho có lệ.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Cần kiểm soát tình hình, không để xảy ra xung đột Biển Đông

Tại buổi tiếp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định trên cơ sở đường lối đối ngoại nhất quán của mình, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ, biết ơn sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của Trung Quốc, luôn coi trọng việc giữ gìn, tăng cường và phát triển quan hệ hợp tác toàn diện bình đẳng cùng có lợi, cùng phát triển giữa Việt Nam - Trung Quốc


Về việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Dầu khí Hải dương 981 nằm sâu trong vùng biển của Việt Nam. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh lập trường nhất quán của Việt Nam đã được nêu trong các cuộc tiếp xúc các cấp của 2 bên thời gian qua, và ngay trong cuộc Hội đàm sáng nay, giữa Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh với Ủy viên Quốc vụ viện Dương Khiết Trì.


Thủ tướng khẳng định, hành động của Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, vi phạm những thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, vi phạm luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC); đe dọa hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trong khu vực; gây bất bình và làm tổn thương tình cảm của nhân dân Việt Nam, tác động tiêu cực đến quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai nước; yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan và tàu ra khỏi vùng biển của Việt Nam; cùng đàm phán giải quyết các tranh chấp bất đồng giữa hai nước bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế và nhận thức chung giữa Lãnh đạo cấp cao hai nước. Đồng thời, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đề nghị hai bên cần kiểm soát tình hình, không để xẩy ra xung đột, tiếp tục duy trì các cuộc tiếp xúc, đàm phán để giải quyết tranh chấp bất đồng hiện nay. Việt Nam kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền của mình bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế.


Tuy nhiên, ông Trì chỉ quan tâm đến tình hình của người Trung Quốc và các doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam, không quan tâm đến vấn đề Biển Đông và Giàn khoan HD981, thậm chí còn ngang ngược thể hiện quan điểm rằng Việt Nam đang gây rối các hoạt động của Trung Quốc tại khu vực giàn khoan HD981 đang neo đậu bất hợp pháp. Và để làm dịu tình hình ông này còn đưa ra một số nhận định chung chung cho rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục có những cuộc gặp gỡ, hội đàm trong thời gian tới nhằm giải quyết vấn đề tranh chấp tại Biển Đông. Tuy nhiên, vấn đề này chưa biết đến bao giờ mới thực hiện được.


Cho đến lúc này, mục đích của Trung Quốc khi đặt giàn khoan HD981 vào vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982, đe dọa an ninh, an toàn khu vực Châu Á Thái bình Dương và biển Đông vẫn đang được thực hiện một cách khôn khéo nhằm che đậy hành vi tiếp tục nỗ lực xây dựng các bãi đá ngầm thành các bãi nổi, nhà giàn và cho quân đội ra thường trú nhằm hiện thực hóa đường lưỡi bò trên thực tế. Việc này Trung Quốc đang thực hiện thường xuyên, liên tục và gấp rút kèm theo cái bình phong HD981 gây sự chú ý của dư luận quốc tế.


Các nhà lãnh đạo Việt Nam trước sau như một thể hiện lập trường, quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề biển Đông nói chung và HD981 nói riêng, tuy nhiên phía Trung Quốc vẫn tiếp tục điều các máy bay và tàu ra khu vục neo đậu giàn khoan HD981. Hiện Trung Quốc đang ngày càng mất dần uy tín trên trường quốc tế, hành động lần này của Ông Trì xem ra đang thực hiện một bước đi mới trong nỗ lực cứu vãn hình ảnh của Trung Quốc đang xuống dốc thảm hại trong thời gian qua. Việt Nam cần cảnh giác hơn với các hành động của Trung Quốc, cần kiên trì nỗ lực đấu tranh bằng con đường ngoại giao và dư luận quốc tế, chúng ta tin tưởng vào sự chiến thắng của công lý, của lẽ phải trong thời gian tới./.


Trần Ái Quốc (bài viết mang quan điểm riêng của tác giả)




Thứ Ba, 17 tháng 6, 2014

Chết cười với trò hề "không bán nước" của giới Rận chủ Việt!!!

Thằng Đậu - Trò hề của lũ ngu được đăng chình ình trên Dân làm báo!

Lâu lắm rồi không ghé Dân làm báo chơi, hôm nay có hứng ghé chút xíu mà Ái tôi thấy buồn cười kinh khủng vì những trò hề của giới Rận chủ Việt, chắc đã cạn bài nên chúng nó bây giờ làm trò khác cho thiên hạ cười!

nn1Không bán nước -trò hề mới của giới rận chủ Việt


Mới đây lũ bại não dân chủ Rân làm báo đã bày ra cái trò hề tưởng chỉ đọc được ở HaiVL trên mạng, chúng sử dụng bình nước và dòng chử "Không bán nước" để tuyên truyền, bịa đặt chính trị. Ở Việt Nam hiện nay, cả dân tộc đang đoàn kết của Đảng và Nhà nước kiên quyết đấu tranh bằng phương pháp hòa bình để phản đối hàng động bá quyền ngang ngược của Trung Quốc trên biển Đông. Việc Trung Quốc kéo Giàn khoan nước sâu Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, cũng như liên tục tiến hành hoạt động xây dựng các bãi đá ngầm trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam và quần Đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam để đơn phương thực hiện giấc mộng Trung Hoa trên thực tế là "độc chiếm biển Đông" để giải quyết cơn khát về năng lượng đang đe dọa sự phát triển của nền kinh tế nước này. Bên cạnh những hành động yêu nước thì cũng có những hành động phá nước, và những hành động công khai tiếp tay cho bè lũ phản động hải ngoại gây rối trật tự công cộng và gây khó khăn cho hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Dân làm báo các vị tưởng chỉ một vài dòng khẩu hiệu và hành động điên khùng của quý vị là thể hiện cho lòng yêu nước sao? yêu nước cái khỉ gì mà chỉ biết kêu gào và xuyên tạc thực tế, xúc phạm lãnh tụ? Yêu nước hay phá nước? Xem ra hành động của quý vị chính là hành động phá nước chính hiệu. Hãy dừng ngay những hành động ngu ngốc này trên thực tế, vì nó chẳng đáng được dư luận quan tâm, và dân chúng Việt cũng đã truyền tai nhau lũ danlambao chỉ là lũ rân chủ bại não, nhóm trí thức cực đoan, chỉ là những anh hùng bàn phím chứ chẳng làm được cách đếch gì cho đời.


Thằng Đậu

"Anh hùng bàn phím"- Nguyễn Ngọc Già (Danlambao)cám ơn chế độ chết trôi VNCH

Trần Ái Quốc - dcm thằng Nguyễn Ngọc Già mất dạy, chẳng biết tên nó có phải là Nguyễn Ngọc Già thật hay là bút danh, nhưng chú mày chỉ biết làm anh hùng bàn phím để ca ngợi cái chế độ chết trôi VNCH đã thành con ma dưới chế độ Mỹ từ những năm 1975, cái chế độ mà đến tận ngày hôm nay vẫn còn khiến nhiều người ghê tởm bởi bản chất dã man, tàn bạo mà không chế độ nào có được.

- Trước tiên, anh xin phép chú Già (danlambao) tặng cho chú vài tấm hình về cái chế độ đã cho chú cái cảm hứng muốn được cống hiến, muốn được trân trọng và chú quyết tâm theo đuổi đến cùng, chùm ảnh được mang tên, tính nhân văn của chế độ "chết trôi" VNCH:


Toi_Ac1224402_102210639813347_7046141_nimages (2)Cái gọi là chế độ văn minh, khoa học trí tuệ mà lũ rận chủ luôn ca ngợi VNCH


5a


lính VN Cộng Hòa dùng lưỡi lê cắt đầu người nông dân do không chịu chỉ điểm vị trí của Việt Cộng (ảnh của Horst Faas chụp ngày 09-01-1964, Hãng Thông Tấn AP)


6a


Đến cả người già cũng được chúng coi là cộng sản và giết không tha.


7a


Lũ lính VNCH cười khả ố trước nỗi đau mất con của người cha.


8a18a2


Lính VNCH dẫn Chiến binh Cộng sản Bảy Lốp đến gặp Tướng Tư Lệnh Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Ngọc Loan, và viên tướng này rút súng chỉa vào thái dương Bảy Lốp mà bóp cò trước anh mắt kinh ngạc của những quân nhân, và mặc cho có sự có mặt của phóng viên nước ngoài


8a3


Viên tướng lạnh lùng cất súng vào bao lúc Bảy Lốp ngả vật xuống đường, tay vẫn còn bị trói thúc ké sau lưng trong tư thế một tù binh chiến tranh


- Thứ 2, chú Già chửi Cộng sản là chế độ bán nước, không có đạo đức, phi nhân tính,..nói chúng là những từ không thể xấu hơn được,.. để anh minh chứng cho chú thấy đạo đức của những người cộng sản như thế nào nhé:


Vào ngày 26/10/1967, dân quân Việt Nam đã cứu sống viên phi công John McCain khi máy bay của hắn bị bắn rơi trên hồ Trúc Bạch, Hà Nội, đối xử với ông rất tình người và sau này ông đã trở thành Thượng Nghị sĩ, ứng viên Tổng thống Hoa Kỳ, luôn thiện cảm và biết ơn Việt Nam.


11


Cái bị gọi là phi nhân tính đang cáng người lính Mỹ bị thương, anh lính Mỹ này nở nụ cười mãn nguyện và yên bình.


12 Chú Già có bắt gặp ở đâu như ở Việt Nam, những người cộng sản Việt Nam đối xử với những tù binh chiến tranh của đối phương theo cách hòa bình nhất, tốt nhất, đàng hoàng nhất với tư cách những con người chính nghĩa, yêu chuộng hòa bình và biết quý trọng phẩm giá con người.


- Thứ 3: anh tặng chú Già bài thơ chú đọc cho vui để chú thấy được những người như cách anh đây coi cái thể loại anh hùng bàn phím như chú thuộc thể loại nào, có xứng đáng được xếp vào hạng người không nhé, chú tự đọc và suy nghẫm, anh chúc chú ngon miệng!!!


Chiến tranh lùi đã mấy chục năm


Sao lũ gian thâm vẫn ngấm ngầm


Cắn bậy, chửi bậy không biết mỏi


Miệng lưỡi phun trào thứ quỷ ma.


 


Ngẫm nghĩ từ lúc mới sinh ra


Từ trẻ đến già đã ngâm nga


Nước Việt bốn nghìn năm trường trị


Kẻ thù kinh bạt thế nước ta.


Quá khứ trôi xa, Đảng chỉ ra


Năm châu thế giới bạn bè ta,


Khép lại quá khứ, nâng tầm vóc,


Nước nhà sống lại khí Đông A.


 


Thế nhưng rận chủ lại lu loa


Tự do, dân chủ Việt Nam ta


Luôn bị cấm đoán, không thoải mái


Để kiếm “Đô lờ” từ “Rận Xa”


 


Ngẫm nghĩ chết cười với “Rận ta”


Toàn lũ ba hoa, miệng ngậm “cờ”


Đầu óc ngu si hơn “óc chó”,


Tâm hồn mê muội chẳng đường ra.


 


Trăm nhà “zân chủ” họp gần xa


Kêu gọi Blogger mạng lưới ma


Cúi đầu làm tay sai cho quỷ


Vinh, Chênh, Uyên, Hạnh,..thật tài ba.


 


Khoác lác, ba hoa dựa HRW


Đạp đầu Mẫu, Phụ, vứt tình thân


Nâng tầm “Rận chủ” lên ngang “Thánh”


Cúng bái linh đình khắp gần xa.


 


Xếp hàng lũ rận với lũ ma


Hai thứ ngang hàng, phải lứa qua,


Đôi lứa xứng đôi đem kết lại


Chín tầng địa ngục thiên đường xa.


 


Tỉnh đi lũ “Rận chủ” quỷ ma


Nuốt lắm “Đô lờ” ngẹn chết cha


Buông lời bần tiện, nhân ti tiện


Hậu thế rủa nguyền rửa chẳng ra./.


- Thứ 4, bây giờ anh mới phân tích cho chú Hiểu thế nào là " lòng tự trọng của con người' cái mà đối với chú Nguyễn Ngọc Già và các đồng đảng thân thiết dân làm báo không bao giờ có được:


+ Thứ nhất, anh khẳng định rằng cái thế loại như chú đếch có lòng tự trọng! Chú Già ạ, cái lòng tự trọng của con người nó được thể hiện ra bên ngoài ở cái việc biết mình là ai, biết mình đến từ đâu và biết được khả năng cũng như vai trò, vị trí của mình trong xã hội, biết cân, đong, đo, đếm được tiếng nói của mình trong xã hội,...Chú được anh để tâm đến, tức là chú cũng thuộc dạng máu mặt trong giới Rân chủ cuội, máu mặt ở đây ví chú có nhân cách thuộc dạng mặt dày như Nguyễn Xuân Diện và nhân cách đáng tự hào như kiểu Nguyễn Ngọc Chênh, bản chất côn đồ gần giống Nguyễn Lân Thắng, và phong cách "anh hùng bàn phím" như lũ trẻ trâu bây giờ, chỉ biết chém gió, chém gió và chém gió!



Chú viết rằng "Dù VNCH tồn tại ngắn ngủi, nhưng tôi không sao quên được cuộc sống chan hòa nhân ái của tuổi hoa niên, dù ngay trong những ngày chiến tranh lửa khói". Biết khả năng của chú cũng chỉ ngang tầm "súc vật rân chủ" nên anh đã mở mắt cho chú bằng cách cho chúng xem ít hình ảnh minh chứng và mất công viết hẳn cho chú bài thơ để chú mang đi họp mà trao đổi với các đồng nghiệp của mình về tương lai, sự nghiệp cũng như cách sống của các chú Rận. Cái chan hòa, nhân ái chắc anh không cần phải nói nhiều nữa. Và chú xem hình xong mà con ca ngợi VNCH là chan hòa, nhân ái thì anh nghĩ chú "đếch có chút sĩ diện cuối cùng nào" chắc cũng không ngoa đâu. hay nói trắng phớ ra là chú đếch có lòng tự trọng!

+ Thứ hai, chú cám ơn chế độ "xác chết" VNCH theo cách gọi của chú vì đã giúp chú giầu có, cho chú cảm hứng làm người, cái đó tùy quan điểm của chú, anh không có ý định dạy lại cho chú cách làm người nhưng anh muốn gửi đến chú một thông điệp rằng "Một kẻ chỉ biết làm tay sai cho kẻ khác, luôn cúi vì những đồng tiền viện trợ của kẻ khác, thì kẻ đó làm quái gì có tư cách pháp nhân để mang đến cho người khác những cái như giàu có, sung sướng, thế nên anh lại kết luận lần nữa "chú đ** có nhân cách".


Chú Già đọc đi xem thử các nhà lãnh đạo của VNCH nói gì, yêu nước đến đâu để chú phải khóc lóc thảm đến thế

Chú dám mạnh mồm nói rằng " Tôi cám ơn Việt Nam Cộng Hòa, không chỉ vì tôi được sống trong một xã hội - có thể chưa phải là tốt đẹp nhất - nhưng tốt đẹp hơn chế độ cộng sản 39 năm qua, mà tôi còn biết ơn vì tôi đã hấp thụ được nền giáo dục, có thể nói, cho đến nay 39 năm, dù VNCH không còn, dù CHXHCNVN cố gắng "cải cách" giáo dục nhiều lần rất tốn kém nhưng không hề mang lại chút tiến bộ nào khả dĩ. Và nói cho công bằng, giáo dục hiện nay tính về chất lượng, vẫn không thể nào đạt được như trước 1975 của miền Nam. Nền giáo dục trước 1975 mà tôi hấp thụ, dù ngắn ngủi, nó thật sự là nền giáo dục nhân bản và khai phóng. Trung thực và hiền lương. Ganh đua nhưng không đố kỵ. Biết phẫn nộ nhưng không tàn ác. Đặc biệt nền giáo dục đó giúp cho hầu hết học trò luôn biết dừng lại đúng lúc trước cái sai với nỗi xấu hổ và tính liêm sỉ - tựa như "hàng rào nhân cách" được kiểm soát kịp thời.

Cái gọi là giáo dục khai phóng của chú anh chẳng hiểu nó khai đến đâu, nhưng anh thấy chỉ đào tạo nên được một lũ rặt chỉ biết giết người, cướp của, hiếp dâm và tiêu tiền. Nền giáo dục của chú cho chú những tinh hoa để rồi chú sử dụng nó để viết những điều sằng bậy, quay trở lại chửi cả dòng họ nhà mình là theo cộng sản, cái mà nếu không có nó thì chắc đ** gì chú đã sống được đến ngày hôm nay, được hưởng những thành quả tốt đẹp này, không phải luồn cúi và manh danh một kẻ nô lệ và phụ thuộc.

Chú nói tôi tìm lại được "tính người" nhờ giáo dục VNCH, giáo dục luôn là tinh hoa, nhưng nếu chỉ có VNCH mới cho chú được "tính người" thì hơn 90 triệu dân Việt Nam này không có tính người à? Hơn vài chục triệu đồng bảo hải ngoại mất hết tính người ư chú Già????



Đây gọi là khai phóng, là nhân văn, là tính người ư?

Chú nghĩ lại đi chú Già ạ, chúc chú sớm tỉnh táo, biết thế nào là "liêm sỉ và tính người"

Chào thân ái!

Trần Ái Quốc

Xem ra Trung Quốc quyết cướp biển Đông đến cùng!

Trần Ái Quốc - Trung Quốc rộng vai nhưng hẹp lòng!

Vì giấc mộng Trung Hoa, Trung Quốc không từ bất cứ thủ đoạn nào, từ việc sử dụng sức mạnh quân sự để tiến hành các hoạt động bất hợp pháp tại biển Đông đến việc ngụy tạo lịch sử để cố chứng minh rằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thuộc chủ quyền Trung Quốc.

Buồn cười khi lấy cái mốc lịch sử là 1947 để so sánh với những bằng chứng lịch sử hàng ngàn năm của thế giới, lấy những bằng chứng chắp nối không liên mạch để đi minh chứng cho cái không có, cái vô lý mà với lợi thế về quân sự hùng mạnh, dùng sức mạnh kẻ lớn để buộc những nước nhỏ hơn phải nghe theo.  Theo Giáo sư sử học Vũ Minh Giang - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội, ngay từ khi cho quân đội đánh chiếm Hoàng Sa vào năm 1974, Trung Quốc đã huy động một lực lượng đông đảo các học giả tiến hành kê cứu và biên soạn một cuốn sách đồ sộ, ra sức chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà TQ gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền TQ. Từ những năm 1980, bộ sách "Ngã quốc nam hải chư đảo sử liệu hối biên" (tập hợp các sử liệu về các đảo của nước ta ở vùng biển phía nam), dày 800 trang, nhanh chóng trở thành cơ sở lập luận chủ yếu cho các tuyên bố của Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông. Thực chất, cuốn sách này là những trò cắt xén tư liệu, giấu bối cảnh lịch sử, gán cho chúng những ý nghĩa mà bản thân chúng không có.  Ví dụ trong sách Dị vật chí (ghi chép về những vật lạ), câu được chép ra là: "Trướng hải kỳ đầu thủy thiển nhi đa từ thạch..." (biển sóng triều dâng gập ghềnh đá ngầm, nước cạn mà nhiều đá nam châm...). Các tác giả giải thích rằng, Trướng hải là tên gọi biển Đông của người TQ thời đó và vùng đá ngầm dưới có từ tính nam châm là chỉ hai quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa).  Hay có những đoạn trích khác chỉ là "nghe truyền rằng" biển lớn phía đông có Trường Sa thạch đường rộng vạn dặm... Những câu trích dẫn này thực ra chỉ là những ghi chép về các hiện tượng mà các tác giả cho là lạ, chứ hoàn toàn không có ý nghĩa gì về việc phát hiện, đặt tên đảo, nên không thể coi là chứng lý về chủ quyền. TQ hoàn toàn tay trắng với những chứng cứ lịch sử để khẳng định và thực thi chủ quyền, chỉ tập hợp những cái vá víu và to mồm lu loa lên mà thôi.


Chắp vá chứng cứ đã là một điều lừa đảo trái với đạo đức và pháp luật quốc tế, trái với con đường xã hội chủ nghĩa mà Trung Quốc đang dày công xây dựng, trái với "đạo nhân" mà Trung Quốc đang rao giảng, nhưng vì "giấc mộng Trung Hoa" các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang sẵn sàng biến những điều "ngớ ngẩn" thành bằng chứng hòng cướp trắng biển Đông của các nước có chủ quyền trên biển theo Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982.
Ngoài việc hèn hạ lợi dụng tình hình ngoại giao giữa Trung Quốc và Mỹ để cướp trắng Hoàng Sa của Việt Nam vào năm 1974, Trung Quốc còn liều lĩnh và ngạo ngược đến mức dùng vũ lực giết hại 64 anh hùng liệt sỹ quân đội nhân dân Việt Nam đang làm nhiệm vụ xây dựng nhà giàn trên đảo Gạc Ma, Len Đao và Cô lin vào ngày 14/3/1988.


Với những đảo đã cướp được, chúng đang tăng cường xây dựng các rặng san hô và các bãi đá ngầm thành các bãi nổi để thành lập các khu đồn trú và hiện thực hóa "giấc mộng Trung Hoa" về đường lưỡi bò và âm mưu độc chiếm biển Đông, biến biển Đông thành sân nhà của mình, qua đó thao túng con đường Hàng hải và Hàng không quan trọng của Châu Á Thái Bình Dương.



Trung Quốc đang tích cực xây dựng trái phép các bãi đá ngầm và San hô ngầm trên bãi đá Tư Nghĩa, thuộc cụm đảo Sinh Tồn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.


Trung Quốc đang tiến hành cải tạo đất trái phép không phải trên 1 mà là 5 khu vực - đá Gạc Ma, đá Châu Viên, đá Tư Nghĩa, đá Ga Ven và đá Én Đất - thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Nếu những đảo này được hoàn thành thì con đường hàng hải quốc tế sẽ vô cùng khó khăn và Trung Quốc sẽ chi phối và biến biển Đông thành sân nhà của riêng họ còn các nước có chủ quyền đối với biển Đông lại trở thành những kẻ yếu thế hơn và phải phụ thuộc vào Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến biển và kinh tế biển.


Ngoài việc tích cực xây dựng các bãi đá ngầm, biến các bãi đá ngầm thành các bãi nổi để dễ bề thực hiện âm mưu độc chiếm biển Đông, việc Trung Quốc tiếp tục cho quân đội đóng tại các bãi đá thộc chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Trường Sa đang vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế và làm phức tạp, căng thẳng hơn tình hình trên biển Đông.

Và hiện nay, việc Trung Quốc đang tiếp tục tiến hành duy trì Giàn Khoan nước sâu HD981 cùng hàng trăm tàu hộ tống liên tục gây hấn trên vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đang khẳng định các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang quyết tâm theo đuổi và làm cho giấc mơ của Trung Quốc trở thành hiện thực. Dĩ nhiên Mỹ và các nước có quyền lợi liên quan đến biển Đông sẽ không để Trung Quốc được yên để thực hiện giấc mơ này, nhưng Trung Quốc quên mất rằng đang thách thức dân tộc Việt Nam anh hùng, đang cướp đi những mét nước thân yêu mà cha ông của dân tộc Việt đã giữ gìn và vun đắp. Trung Quốc đang vừa ăn cướp vừa la làng trên biển Đông, vừa thể hiện văn hóa của một kẻ chính nhân, vừa tráo trở, ngụy biện và lọc lừa như những tên cướp biển, thậm chí chúng còn bẩn thỉu và vô đạo đức hơn cả những tên cướp biển. Cái giá mà Trung Quốc phải trả là sự mất lòng tin của quốc tế và Trung Quốc, sự sụt giảm nghiêm trọng về quan hệ đối ngoại giữa Trung Quốc và các nước ASEAN, đặc biệt là nguy cơ về một cuộc chiến tranh để giải quyết tranh chấp về chủ quyền trên biển Đông. Xin nhắc lại Việt Nam có đầy đủ bằng chứng về lịch sử và pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, xin khẳng định rằng Trung Quốc không có căn cứ gì để tranh chấp đối với chủ quyền biển đảo đối với Việt Nam và các nước trong khu vực có liên quan. Là một nước lớn, Trung Quốc nên tôn trọng luật pháp quốc tế, nên biết giới hạn của mình đến đâu, đừng để phải trả giá vì sự ngạo ngược và manh động mà cha ông họ đã phải nếm mùi trong lịch sử. Tuy nhiên có một thực tế chúng ta cần nhìn nhận đúng, việc giàn khoan HD981 của Trung Quốc trước sau gì cũng phải rút, nhưng những bãi đá nhân tạo và những căn cứ quân sự mà Trung Quốc đang xây dựng thì sẽ tồn tại trên thực tế trong thời gian tới, Trung Quốc đang chơi trò nghi binh để thu hút dư luận quốc tế tập trung vào cái nhà giàn di động mà quên mất chúng đang hiện thực hóa đường lưỡi bò bằng việc xây dựng các căn cứ nhà giàn, các khu đồn trú trên biển Đông một cách liên tục. Xem ra việc Trung Quốc quyết tâm cướp biển Đông đã là vấn đề hiện thực được khẳng định, vấn đề là sức mạnh của lòng yêu nước và lẽ phải của dân tộc Việt Nam khi đấu tranh trên nghị trường quốc tế sẽ như thế nào để buộc Trung Quốc phải chấm dứt ngay các hành động vi phạm pháp luật và chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông.


Trần Ái Quốc


 

Tàu kiểm Ngư lớn nhất Việt Nam hoàn thành- Sức mạnh quốc phòng đã được củng cố!

Trần Ái Quốc - Tàu kiểm ngư lớn nhất Việt Nam đã chuẩn bị bàn giao cho lực lượng kiểm ngư Việt Nam, đây sẽ trở thành một nỗi khiếp sợ đối với Trung Quốc trên biển Đông đồng thời tăng cường thêm tiềm lực về quốc phòng cho lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam trên biển Đông.


Tàu Kiểm ngư 781 hiện là con tàu được trang bị hiện đại bậc nhất Việt Nam phục vụ cho hoạt động tuần tra biển


Thông tin trên thực địa đang hết sức căng thẳng, hiện Trung Quốc vẫn liên tục điều các tàu thuyền có trọng tải lớn và hàng chục tàu cá vỏ sắt của ngư dư Trung Quốc để bảo vệ cho cái gọi là Giàn khoan nước sâu HD981. Với lợi thế tàu đông, trọng tải lớn hiện các tàu của Trung Quốc không ngại va chạm và liên tục gây hấn với lực lượng Kiểm Ngư và Cảnh sát Biển Việt Nam.



Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thị sát tàu KN 781


Tăng cường tiềm lực về quốc phòng và an ninh là những nhiệm vụ trọng yếu và cơ bản được Đảng và Nhà nước Việt Nam hết sức quan tâm, trong quá trình đóng, hạ thủy và kiểm tra các thiết bị trên tàu, đích thân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đến tận nơi thị sát và động viên cán bộ chiến sỹ. Tàu kiểm ngư 781 có chiều dài 90,50 mét, rộng 14 mét, trang bị 4 máy công suất lớn 12.016 mã lực và có lượng choán nước lên đến 2.400 tấn. Tàu có sân đỗ cho máy bay trực thăng, có thể hoạt động liên tục 5.000 hải lý. Đây là ưu điểm của tàu KN-781 trong khi tàu DN-2000 của Cảnh sát biển chỉ có sàn đáp. Việc thêm nhà chứa giúp tàu có khả năng mang theo trực thăng trong những chuyến tuần tra, còn DN-2000 có sàn đáp nhưng không có nhà chứa thì chỉ có thể tiếp nhận chứ không thể trang bị kèm trực thăng.


Theo thông tin trong tháng 6 này Công ty đóng tàu Hạ Long sẽ bàn giao tàu KN-781 cho lực lượng Kiểm Ngư Việt Nam và tiếp tục bàn giao tàu  KN-782  vào tháng 7 này để lực lượng kiểm ngư có thể làm nhiệm vụ trên vùng biển của nước ta. Đây là 2 con tàu đầu tiên do Tập đoàn Damen (Hà Lan) thiết kế và chuyển giao kỹ thuật đóng mới theo tiêu chuẩn Châu Âu.  Lộ trình của Việt Nam đến hết năm 2015 sẽ trang bị cho lực lượng kiểm ngư 6 chiếc tàu thuộc vào dạng hiện đại như tàu KN781.


Ngoài những trang bị hiện đại của con tàu như hệ thống vòi rồng cực mạnh, lượng dãn nước lớn, tàu còn được trang bị bãi đỗ trực thăng và hỏa lực rất mạnh nhằm tăng cường tiềm lực tự vệ cho lực lượng thực thi pháp luật. Trong điều kiện hiện nay, Việt Nam đang cần được trang bị nhiều hơn nữa những con tàu hiện đại như thế này để tăng cường tiềm lực quốc phòng về biển đảo và bảo vệ chủ quyền biển đảo trước sự xâm lấn của các thế lược bành trướng và bá quyền.


Cùng chiêm ngưỡng một số hình ảnh về con tàu hiện đại bậc nhất Việt Nam này:



Vòi rồng với tầm vươn 150 mét trên tàu KN 781



Bãi đỗ trực thăng



Hỏa lực và loa công suất cực lớn được trang bị


Với sự hỗ trợ cần thiết của Đảng và Nhà nước ta, lực lượng Kiểm ngư đang ngày càng được trang bị chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, đáp ứng đầy đủ yêu cầu bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam trên biển Đông. Trung Quốc từ trước đến nay chỉ biết lợi dụng lợi thế của nước lớn để ức hiếp ngư dân Việt Nam, lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam, sử dụng vũ lực để gây hấn và không ngại dùng vũ lực, còn Việt Nam dù nhỏ hơn, yếu hơn, nhưng luôn lấy hòa bình là cốt lõi, luôn theo đuổi và đấu tranh bền bỉ để bảo vệ bằng mọi giá chủ quyền của dân tộc. Bài học:


"Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,


Lấy trí nhân để thay cường bạo"


hơn lúc nào hết lại được những người con đất Việt duy trì và kiên trì theo đuổi, sự xuất hiện của tàu KN 781 trên biển Đông sẽ làm thay đổi cục diện của sự tương quan lực lượng, chúng ta tin tưởng vào tương lai, vào lẽ phải và chính nghĩa!


Trần Ái Quốc

 
Chia sẻ