Nhãn

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

Việt Nam nên khởi kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài quốc tê trên những phương diện nào?

Tòa Trọng tài thường trực (tiếng Anh - Permanent Court of Arbitration (PCA)) được thành lập vào năm 1899 trên cơ sở Công ước La Haye giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế (Công ước La Haye 1). Tòa Trọng tài thường trực La Haye có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia thành viên nếu các quốc gia này thỏa thuận lựa chọn Tòa Trọng tài để giải quyết mà không phải là một thiết chế khác.


1. Bài học từ vụ kiện của Philippin


Trong vụ kiện của Philippines đối với Trung Quốc, sau khi nghiên cứu kỹ luật pháp quốc tế và Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982, Philippin đã quyết định không khởi kiện TRung Quốc lên tòa án quốc tế mà tiến hành khởi kiện ra Tòa Trọng tài thường trực La Haye. Điều này phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 287 và Điều 1 và Điều 4 Phụ lục VII Công ước 1982. Theo đó một Tòa Trọng tài được các bên tranh chấp yêu cầu và có chức năng giải quyết những tranh chấp có liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước Luật Biển 1982. Tòa Trọng tài theo quy định sẽ giải quyết các vấn đề tranh chấp quốc tế theo 2 trường hợp:


Thứ nhất, một quốc gia thành viên (như Việt Nam, Trung Quốc, Philippines) khi ký, phê chuẩn hoặc tham gia Công ước 1982 mà không tuyên bố lựa chọn phương thức, thủ tục giải quyết tranh chấp cụ thể quy định tại khoản 1 Điều 287 thì coi như sẽ chấp nhận giải quyết tranh chấp theo thủ tục trọng tài. Philippines đã lập luận rằng cả Philippines và Trung Quốc đều không đưa ra tuyên bố về việc lựa chọn thủ tục nào khi tham gia Công ước, do đó một Tòa Trọng tài sẽ được coi là phương thức bắt buộc để giải quyết tranh chấp.
Tòa Trọng tài thường trực xử tranh chấp ra sao?


Đường 9 đoạn vô lý của Trung Quốc nằm ngay trên đường cơ sở của Philippin


Thứ hai, nếu các bên có sự chọn lựa phương thức giải quyết tranh chấp không giống nhau thì vụ tranh chấp đó sẽ được giải quyết bằng thủ tục trọng tài (có thể xem như mang tính “bắt buộc”). Một điểm đáng lưu ý là theo Điều 298 của công ước, một quốc gia khi ký kết, phê chuẩn hay tham gia công ước hoặc vào bất kỳ thời điểm nào sau đó có thể đưa ra bảo lưu bằng văn bản tuyên bố quốc gia này không chấp nhận một hay nhiều thủ tục giải quyết các tranh chấp đối với: Phân định lãnh hải (Điều 15); phân định vùng đặc quyền kinh tế (Điều 74); phân định thềm lục địa (Điều 83) và các tranh chấp về các vịnh hay danh nghĩa lịch sử; về hoạch định ranh giới các vùng, hoặc các vụ tranh chấp cần phải được giải quyết theo đúng thỏa thuận song phương hoặc đa phương ràng buộc các bên; các hoạt động quân sự bao gồm hoạt động quân sự của tàu thuyền và phương tiện bay nhà nước hoặc thực thi pháp luật đối với các quyền thuộc chủ quyền hoặc quyền tài phán; những vấn đề mà Hội đồng Bảo an đang thực thi theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc.


Đáp lại vụ kiện của Philippin, ngày 25-8-2006 Trung Quốc đã có thư bảo lưu gửi Toàn trọng tài tuyên bố không chấp nhận các phương thức giải quyết trong Luật Biển. Tuy nhiên, Philippines đã đưa ra các yêu cầu tòa ra phán quyết nằm ngoài phạm vi bảo lưu của phía Trung Quốc bao gồm: (1) Đường cơ sở chín đoạn là không có cơ sở; (2) Việc Trung Quốc xây dựng các công trình trên các bãi, vỉa đá ngầm nằm trong phạm vi 200 hải lý của Philippines là vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của nước này trên thềm lục địa; (3) Các luật quốc gia mà Trung Quốc ban hành, bao gồm quy định về cấm đánh bắt hải sản hằng năm trên biển Đông là vi phạm Công ước 1982; (4) Những hành động mà phía Trung Quốc đã thực thi nhằm cản trở nước này thực thi quyền lợi trong các vùng biển của nước mình cũng như tại các bãi, vỉa đá ngầm và vùng biển xung quanh là trái với công ước.


Về nguyên tắc, một tranh chấp được đệ trình ra trước tòa trên cơ sở thỏa thuận đồng ý của các bên liên quan. Căn cứ vào một trong hai trường hợp như đã nói ở trên, bên khởi kiện (nguyên đơn) có thể tự mình thực hiện khởi kiện yêu cầu mà không cần quan tâm quốc gia kia (bị đơn) có đồng ý hay không. Đồng thời bên nguyên đơn cũng sẽ thông báo bằng văn bản gửi cho bị đơn, trong đó kèm theo văn bản nêu rõ các yêu sách, cơ sở pháp lý của các yêu sách đó. Một điểm đáng lưu ý là việc một bên vắng mặt hoặc không trình bày các lý lẽ của mình (như trường hợp của Trung Quốc) cũng không làm cản trở tiến trình giải quyết tranh chấp tại Tòa Trọng tài.


Theo quy định của Điều 3, Phụ lục VII Công ước Luật Biển 1982, một hội đồng trọng tài gồm năm thành viên sẽ được thành lập nếu các bên không có thỏa thuận khác. Về phần mình, nguyên đơn sẽ chọn và đề cử một thành viên (có thể là công dân của nước mình) từ danh sách trọng tài viên. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo giải quyết tranh chấp bằng trọng tài của nguyên đơn, phía bị đơn cũng sẽ chọn từ danh sách trọng tài một trọng tài viên (có thể là công dân của mình). Sau khi hết thời hạn 30 ngày này mà phía bị đơn không chọn trọng tài viên thì bên nguyên đơn có thể yêu cầu tiến hành việc cử trọng tài viên đó. Sau đó, ba trọng tài viên còn lại sẽ được các bên chọn ra từ trong bản danh sách trọng tài viên, những người này phải là công dân của nước thứ ba nếu các bên không có thỏa thuận khác, một trong số ba trọng tài viên này sẽ được bầu là chủ tịch Hội đồng trọng tài.


Tuy nhiên, nếu trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận được thông báo yêu cầu giải quyết tranh chấp của phía nguyên đơn mà các bên tranh chấp không thể thỏa thuận về việc chỉ định một hay nhiều thành viên của trọng tài hay bầu ra chủ tịch hội đồng thì chánh án Tòa Quốc tế về Luật Biển sẽ thực hiện công việc này trên cơ sở yêu cầu của bất kỳ bên nào trong vụ tranh chấp. Bên nguyên đơn có nghĩa vụ cung cấp cho trọng tài mọi tài liệu, chứng cứ pháp lý chứng minh cho yêu sách của mình sau khi Hội đồng trọng tài được thành lập để phân xử vụ việc.


Phán quyết của Hội đồng trọng tài phân xử vụ việc được thông qua theo đa số, nếu số phiếu ngang nhau thì phiếu của Chủ tịch Hội đồng trọng tài có giá trị quyết định. Theo Điều 11 Phụ lục VII, phán quyết của Tòa Trọng tài có giá trị chung thẩm, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải tuân thủ và không thể kháng cáo, trừ khi các bên có thỏa thuận về vấn đề này. Các bên chỉ có thể yêu cầu Tòa Trọng tài xem xét và trong trường hợp có tranh chấp về việc giải thích hay thực hiện phán quyết của trọng tài.


2. Những quyết định của Việt Nam


Trước tình hình Trung Quốc đưa thêm nhiều giàn khoan vào Biển Đông, Giàn Khoan HD981 và hàng trăm tàu thuyền các loại của Trung Quốc vẫn tiếp tục án ngữ trên vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng công ước quốc tế về luật Biển năm 1982 mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều đã phê chuẩn.



Giàn khoan HD981 đang nằm trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam


Đối với Việt Nam hiện nay, việc chuẩn bị cơ sở pháp lý để khởi kiện Trung Quốc là hợp lý, tuy nhiên việc khởi  kiện như thế nào? Làm sao để đạt được hiệu quả cao và kiềm chế được các hành động gây hấn của Trung Quốc ngày càng gia tăng là điều chúng ta cần tính toán một cách kỹ lưỡng. Việt Nam không thể khởi kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế bởi Tòa án quốc tế sẽ từ chối giải quyết những vấn đề liên quan đến tranh chấp chủ quyền và lãnh thổ, hơn nữa các bên tham gia gồm bên khởi kiện và bên bị kiện có quyền bác bỏ và không tham gia phiên tòa. Do vậy, Việt Nam cần nghiên cứu kỹ bài học từ Philippin khởi kiện Trung Quốc lên tòa Trọng tài quốc tế theo Phụ lục VII của Công ước quốc tế về luật biển năm 1982 về những vấn đề sau:


Thứ nhất, Đường cơ sở chín đoạn của Trung Quốc là không có cơ sở và căn cứ pháp lý;


Thứ 2, Việc Trung Quốc xây dựng các công trình trên các bãi, vỉa đá ngầm nằm trong phạm vi 200 hải lý của Việt Nam là vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam theo pháp luật quốc tế;


Thứ ba, Giàn khoan HD981 năm ngay trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam  là vi phạm nghiêm trọng công ước quốc tế về luật biển năm 1982 về quy định chủ quyền quốc gia ven biển là 200 Hải lý, còn các đảo nổi của Trung Quốc không có người dân sinh sống hoặc không hội tụ đủ các quy định theo Công ước quốc tế về luật biển để xác định là quốc gia có chủ quyền đối với biển thì không được xác định lãnh hải là 200 Hải lý do đó không có vùng chồng lấn tranh chấp.


Thứ tư, Các luật quốc gia mà Trung Quốc ban hành, bao gồm quy định về cấm đánh bắt hải sản hằng năm trên biển Đông là vi phạm Công ước 1982;


Thứ tư, Những hành động mà phía Trung Quốc đã thực thi nhằm cản trở Việt Nam thực thi quyền lợi trong các vùng biển của nước mình cũng như tại các bãi, vỉa đá ngầm và vùng biển xung quanh là trái với công ước.


Giàn khoan HD981 của Trung Quốc đang hiện diện trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam, chúng đang tích cực đưa thêm 4 giàn khoan nước sâu nữa vào vùng biển Đông để thực hiện một nước cờ mới, biến vùng không tranh chấp thành vùng tranh chấp và đương nhiên khẳng định một cách mập mờ là chủ quyền vùng đó thuộc Trung Quốc rồi dùng sức mạnh quân sự để tranh cướp. Việt Nam cần nghiên cứu kỹ và có hành động phù hợp để tránh tình trạng căng thẳng ngày càng tăng trên biển Đông, đồng thời dạy cho Trung Quốc biết được sức mạnh của lẽ phải, của công lý nằm ở đâu!


Trần Ái Quốc

3 Nhận Xét :

  1. Trước những hành động ngông cuồng của Trung Quốc trên biển Đông, tôi nghĩ Việt Nam nên có một biện pháp giải quyết rõ ràng nhưng phải đúng đắn để bảo vệ chủ quyền toàn vẹn Việt Nam. Nhưng cần phải cân nhắc thật kĩ phương pháp cũng như phương diện vì Trung Quốc từ trước đến nay vẫn nổi tiếng là thâm độc, lắm mưu nhiều kế

    Trả lờiXóa
  2. Giàn khoan HD981 của Trung Quốc đang hiện diện trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam, chúng đang tích cực đưa thêm 4 giàn khoan nước sâu nữa vào vùng biển Đông để thực hiện một nước cờ mới, biến vùng không tranh chấp thành vùng tranh chấp và đương nhiên khẳng định một cách mập mờ là chủ quyền vùng đó thuộc Trung Quốc rồi dùng sức mạnh quân sự để tranh cướp. Đó là một việc làm hết sức trái, chúng ta không thể chấp nhận được, chúng ta cần lên án mạnh mẽ và khởi kiện trung quốc ra tòa án quốc tế.

    Trả lờiXóa
  3. Bản thân việc khởi kiện đã là một lời tuyên bố mạnh mẽ của Việt Nam về niềm tin vào công lý và luật pháp quốc tế và là một lời kêu gọi cộng đồng quốc tế quan tâm thật sự vào việc này. Hiện tại, vì tiềm lực kinh tế của Trung Quốc rất mạnh và hầu như rất nhiều nước trên thế giới có quan hệ kinh tế với Trung Quốc, do đó, cho dù họ muốn lên tiếng ủng hộ Việt Nam thì cũng phải có một cái cớ và một cơ sở nào đó. Cơ sở pháp lý đưa ra tại một cơ quan tài phán sẽ là cơ sở để cộng đồng quốc tế nhìn vào đó mà lên tiếng ủng hộ

    Trả lờiXóa

 
Chia sẻ