Nhãn

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015

Thảm sát Mỹ Lai trong ký ức của những người đang sống!

Vụ thảm sát Mỹ Lai (Sơn Mỹ) xảy ra vào sáng 16/3/1968 tại xã Tịnh Khê – Sơn Tịnh – Quảng Ngãi do lực lượng đặc nhiệm Barker quân đội Mỹ tiến hành. Trong vài giờ, đơn vị này đã giết chết 504 thường dân (gồm 182 phụ nữ, trong đó 17 người đang có mang cùng với 60 cụ già trên 60 tuổi), thiêu hủy hoàn toàn 247 ngôi nhà và giết hại tất cả các loài súc vật trong khu vực xóm Thuận Yên, thôn Tư Cung và xóm Gò, thôn Cổ Lũy.


Từ đầu năm 1968, Tịnh Khê nằm trong khu vực tác chiến của đơn vị lực lượng đặc nhiệm Barker gồm 3 đại đội mang phiên hiệu A, B, C thuộc lữ đoàn 11, sư đoàn 23 (còn gọi là sư đoàn Americal). Trên bản đồ tác chiến, đơn vị này đã lấy tên Mỹ Lai đặt cho 4 làng của xã Tịnh Khê thành Mỹ Lai 1, 2, 3, 4. Đặc biệt trong xã Tịnh Khê, thôn Tư Cung được lính Mỹ khoanh 1 vòng tròn đỏ và ghi chú “ấp Tư Cung xã Sơn Mỹ”. Do đó thôn Tư Cung còn được lính Mỹ gọi là Pinkville tức là “làng Hồng”.


5h30 phút sáng cách đây tròn 47 năm, cuộc hành quân của lính Mỹ được dọn đường bằng 30 phút câu pháo và trực thăng bắn rocket vào làng. Sau đó, những tốp trực thăng đổ quân xuống xóm Thuận Yên và Trường An của thôn Tư Cung. Một tốp khác đổ binh lính xuống xóm Gò, thôn Cổ Lũy.
Lính Mỹ tràn vào làng, lùng sục từng nhà. Chúng bắt người dân ra khỏi hầm trú ẩn rồi bắn hoặc châm lửa đốt nhà để buộc người dân chạy ra khỏi hầm. Khi họ vừa chạy ra khỏi cửa nhà thì những họng súng đã chờ sẵn, chỉ cách họ vài mét khạc lửa. Cũng có khi lính Mỹ thi nhau ném lựu đạn vào trong hầm – nơi những người dân vô tội còn đang chưa hết run rẩy sau những tràng pháo lớn. Có trường hợp, cả một gia đình đang ăn sáng thì lính Mỹ xộc vào bắn loạn xạ làm tất cả chết gục bên mâm cơm.
=====
1. LỜI KỂ CỦA NHỮNG NGƯỜI TRONG CUỘC:
Theo lời kể của Nguyễn Đình Phú ( thông dịch viên trong lực lượng Barker) về kế hoạch hành quân của lực lượng Barker: “Tối hôm ấy đại đội của tôi đóng tại Bình Sơn, nơi đóng ban chỉ huy của lực lượng đặc nhiệm Barker. Suốt đêm, binh sĩ Hoa Kỳ được cho uống bia, khi đêm sắp tàn thì họ đã quá say. Trong số binh sĩ có người nói cho tôi biết rằng trong cuộc hành quân ngày mai, chúng ta được lệnh khi vào làng sẽ tàn sát hết không chừa một sinh vật nào kể cả trâu bò…"...



Tội ác của Mỹ ở Mỹ Lai - chiến tranh Việt Nam


Viên trung sĩ Charles West trong ban chỉ huy của Medina cũng kể: “ông ta nói theo tin tình báo cấp cao đã nhận được thì làng này chỉ toàn quân đội Bắc Việt Nam, Việt cộng và gia đình Việt cộng. Ông ta nói rằng mệnh lệnh là phải tiêu diệt Mỹ Lai và mọi vật ở đó”.


Như vậy, ngay từ đầu, quân đội Mỹ đã phổ biến cho binh sĩ phải tàn sát dân làng chứ không phải đây là hành động tự phát như lời biện hộ của các chỉ huy quân Mỹ sau khi sự việc vỡ lở.


Trung sĩ Ronald Haeberle (nhiếp ảnh viên của quân đội Mỹ) có mặt trong cuộc hành quân hôm đó, đã kể lại trên tạp chí Life vào tháng 11/1969: “Tôi đến đại đội C lúc 6h sáng ngày 16/3/1968, trước lúc mặt trời mọc. Chẳng ai giải thích cho tôi điều gì về cuộc hành quân này. Vừa ra khỏi máy bay tôi đã nghe tiếng súng nổ nhưng tôi không quay lại. Một số dân Việt Nam, có lẽ chừng 15 người, phần lớn là phụ nữ và trẻ con đang đi trên đường cách đó chừng 15 thước Anh. Bất thình lình, lính Mỹ bắn vào họ bằng súng trường M16 và cả súng phóng lựu M79. Trước cảnh tượng ấy, tôi không dám tin vào mắt mình nữa”.


Trong ngày hôm đó, Haeberle đã chụp rất nhiều ảnh ghi lại cảnh tàn sát. Một trong số đã gây xúc động mạnh cho dư luận là cảnh 2 em bé nằm sấp trên đường, bên 1 thửa ruộng. Haeberle kể: “Khi 2 đứa bé bị bắn, đứa lớn nằm đè lên đứa nhỏ như để bảo vệ em nó. Nhưng lính Mỹ đã kết liễu cuộc đời của cả hai”.


Đi theo đại đội C sáng hôm ấy còn có phóng viên quân đội Mỹ Jay Roberts. Anh ta kể: “Một đứa trẻ nhỏ xíu chỉ mặc độc chiếc áo ngắn đang bò lê trên đống xác chết và nắm lấy bàn tay 1 người nào đó, chắc là mẹ nó. Một lính Mỹ đi sau tôi quỳ xuống và bắn chết nó bằng 1 phát đạn”.


Còn Meadlo, lính dưới quyền của viên trung úy Calley (chỉ huy trung đội 1, đơn vị trực tiếp tàn sát dân làng Tư Cung) đã kể lại trên kênh truyền hình CBS vào tháng 11/1969: “Đàn ông, đàn bà, trẻ em và trẻ sơ sinh. Chúng tôi bắt tất cả ngồi xổm. Trung úy Calley bảo chúng tôi: có biết làm gì bọn này không? Tôi đáp có và đinh ninh rằng Calley dặn tôi phải canh giữ những người kia rồi Calley bỏ đi. 15 phút sau, Calley quay lại hỏi sao mày không giết chúng nó đi? Tao muốn chúng nó phải chết. Thế rồi Calley lùi lại vài bước và bắt đầu bắn. Tôi đã bắn 4 băng M16… Súng tự động cứ lia vào người đứng, chắc lần đó tôi đã giết chừng 10 đến 25 người”.


Không chỉ xông vào bắn giết người dân ở trong nhà, lính Mỹ còn bắt họ dồn vào một khu vực rồi xả súng tàn sát tập thể. Khu vực diễn ra cảnh tàn sát ghê rợn ấy nằm ở con mương dẫn nước cuối xóm Thuận Yên trong thôn Tư Cung. Tại đó, chỉ trong khoảnh khắc 170 người đã bị bắn chết. Sledge, lính truyền tin của trung đội 1 thuộc đại đội C nói: “Tôi đi theo trung úy Calley đến cái mương ở rìa phía đông làng. Ở đó chúng tôi gặp trung sĩ Mitchell. Calley nói điều gì đó với Mitchell tôi không rõ. Sau đó cả 2 người dùng báng súng đẩy dân làng xuống cái mương rồi bắn họ…”
=====
2. SỰ KIỆN CHẤN ĐỘNG NƯỚC MỸ
Ngay sau khi vụ thảm sát xảy ra, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã lên tiếng tố cáo hành động của quân Mỹ. Tuy nhiên, chính quyền Mỹ - Thiệu cố hướng dẫn dư luận rằng đó chỉ là “luận điệu tuyên truyền của cộng sản”. Không những thế, chỉ huy đơn vị đặc nhiệm Barker còn báo cáo lên trên là đã giết 128 lính Việt Cộng sau cuộc giao tranh 1 ngày. Và các tướng lĩnh Mỹ tin rằng đó là một chiến thắng. Trung úy Calley còn được khen thưởng vì đã hăng hái giết được nhiều “Việt Cộng”.


Vụ việc chỉ vỡ lở sau đó hơn 1 năm, với nỗ lực của những lính Mỹ có lương tri. Vào tháng 3/1969, Ridenhour, một cựu quân nhân của đại đội C đã gửi 1 bức thư kể lại những gì mắt thấy tai nghe cùng với những điều đồng đội của anh ta nói về vụ thảm sát Mỹ Lai đến 30 nơi. Những nhân vật chóp bu như Tổng thống, bộ trưởng Quốc phòng, bộ trưởng Ngoại giao và cả những nghị sĩ quốc hội. Tuy nhiên sau này, 22/30 người nói rằng những bức thư không đến tay họ.


Sự việc chính thức vỡ lở trên báo chí sau cuộc điều tra độc lập của nhà báo Seymour Hersh. Ngày 20/11/1969 một loạt các tờ báo lớn như: Time, Life, Newsweek đồng loạt đăng lên trang bìa vụ thảm sát Mỹ Lai. Đài truyền hình CBS cũng phát sóng cuộc phỏng vấn với Paul Meadlo. Đến lúc này, công chúng Mỹ mới giật mình về những hành động vô nhân đạo của binh lính nước họ.


Tin về vụ thảm sát vỡ lở đã gây chia rẽ sâu sắc trong xã hội Mỹ. Người dân mất niềm tin vào những lời hứa của tổng thống và hoài nghi về chính những lý tưởng nhân đạo, tự do mà chính quyền tuyên truyền. Phong trào biểu tình phản chiến phát triển mạnh mẽ. Nhiều người dân công khai phát biểu trên báo chí, bày tỏ sự ghê rợn của mình với hành động tàn sát vô nhân đạo của lính Mỹ. Có người còn nói rằng: “Đáng lẽ con của tôi phải quay súng bắn chết viên chỉ huy đã ra lệnh cho nó bắn chết dân thường”.
=====
3. MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG CUỐN "KILL ANYTHING THAT MOVES" CỦA TÁC GIẢ MỸ NICK TURSE:
-------------------
Các tân binh cũng bị nhồi sọ bởi một nền văn hóa bạo lực và hung hăng, nó kích động tinh thần sẵn sàng giết chóc mà không cần phải ăn năn hối hận. Cũng giống như nhiều người lính, chàng tân binh thời chiến tranh Việt Nam Peter Milord đã kể cho sử gia Appy rằng lúc mới vào chương trình huấn luyện anh ta chỉ gào khản cổ câu khẩu hiệu bạo lực “Giết! Giết! Giết! Giết không thương tiếc mới là tinh thần của lưỡi lê!” – nhưng rồi sau đó cũng thấy đầu óc mình luôn bị ám ảnh bởi câu khẩu hiệu đó. Milord cho biết “Tôi đã không thể biến mình thành rô bốt, nhưng ở nơi kinh hoàng đó bạn rất dễ bị như vậy”. Một cựu chiến binh khác chia sẻ: “Trong vòng 11 tháng tôi được huấn luyện để giết người. Suốt 8 tuần huấn luyện cơ bản chúng tôi phải thét lên “giết, giết” nên khi tới Việt Nam tôi đã sẵn sàng để giết người”. Vẫn còn một cựu quân nhân khác nói với tôi rằng sau khi đã gào “giết, giết, giết” suốt thời gian huấn luyện cơ bản rồi đến huấn luyện bộ binh nâng cao và thám bảo, anh ta cảm thấy mình đã hoàn toàn bị “tẩy não”.


Việc giết người không thương xót còn được người ta hợp pháp hóa bằng tư tưởng phân biệt chủng tộc công khai và tràn lan trong quá trình huấn luyện. Cựu chiến binh lục quân Wayne Smith nhớ lại: “Các sĩ quan huấn luyện không bao giờ gọi là “người Việt Nam” cả, mà miệt thị họ bằng những cụm từ như mấy thằng cu, tụi da vàng, đám đầu đất, tụi mắt xếch ăn cơm… làm cho những người lính không còn coi người dân ở xứ sở này là con người nữa”. Tương tự, cựu chiến binh Haywood Kirkland đã kể lại những trải nghiệm của mình:


“Người ta sẽ làm mọi cách biến đổi toàn bộ tính cách của anh ngay khi bước chân vào trại huấn luyện. Họ nói ngay với chúng tôi rằng không được gọi là người Việt Nam mà hãy gọi là “mấy thằng cu” hay “tụi da vàng”. Họ rêu rao là khi tới Việt Nam chung tôi sẽ đối mặt với Charlie, với Việt Cộng, là lũ súc vật chứ không phải con người… Người ta không cho phép chúng tôi nói về người dân xứ sở đó như thể con người, họ tuyên truyền là không việc gì phải thương hại những người đó… Đó là những gì họ ám thị, hình thành và kích thích bản năng sát thủ trong bạn.”


Thái độ này được củng cố ngay khi những người lính “nhập vùng”, nghĩa là đã tới Việt Nam. Nhiều người lính nhớ lại lúc vừa chân ướt chân ráo tới đã được dạy rằng, dù chính sách đề ra là gì thì cũng không quan tâm vì trong thực tế, không tin được người Việt Nam nào, kể cả phụ nữ và trẻ nhỏ cũng có thể là kẻ thù – một thái độ hoàn toàn trái ngược với luận điệu mà Mỹ vẫn rêu rao là cuộc chiến nhằm bảo vệ dân thường Việt Nam khỏi sự bành trướng của cộng sản. Lính Mỹ tin rằng một đứa trẻ cũng có thể ném lựu đạn hoặc gài thuốc nổ trong người, một bà già cũng có thể giúp đặt bẫy mình. Cho dù các thông cáo chính thức được phát cho quân đội tới Việt Nam đều nhấn mạnh việc phải phân biệt giữa thường dân và du kích thì một vài thông báo vẫn cho rằng bất cứ ai đội nón là hay mặc “bộ pyjama đen” (áo bà ba) đều có thể là kẻ thù.
.....
Một cựu chiến binh kể với tôi rằng, trong quá trình huấn luyện, các sĩ quan luôn nói rõ ràng “kẻ thù là những kẻ mắt xếch sống trong thôn làng, bất kể trẻ em hay phụ nữ”. Một quan chức tóm tắt cách nhìn nhận phổ biến này như sau: “Ừ thì vài phụ nữ và mấy đứa nhỏ bị giết. Thế mới dạy cho bọn chúng một bài học. Chúng không làm Việt Cộng thì cũng giúp Việt Cộng. Ta không thể cải tạo được chúng và chỉ còn cách giết chúng mà thôi”.


Vì sao họ lại nghi ngờ cả phụ nữ lẫn trẻ em? Một trong những lí do là khi đi tuần qua hết làng này đến làng khác, lính Mỹ chỉ gặp trẻ em, phụ nữ hoặc người già chứ không gặp bất kì người đàn ông con trai nào trong độ tuổi tòng quân cả. Một cựu quân nhân đã tham chiến 1 năm cho biết: “Trong suốt thời gian đi tuần, tôi có thể đếm trên đầu ngón tay số đàn ông hay nam thanh niên đã gặp”. Một người lính khác nói: “Anh bước vào một ngôi làng và không bao giờ thấy bóng một người đàn ông nào cả. Không bao giờ.” Đối với người Mỹ, chỉ có một cách để giải thích chuyện này: những người đàn ông “biệt tăm” đó, những người con trai và người chồng trong làng đều là du kích Việt Cộng. Điều này dĩ nhiên chỉ là một khả năng vì cũng có thể những người đó đang phục vụ trong lực lượng Việt Nam Cộng hòa thân Mỹ, không thì họ là những người trốn lính đang lẩn trốn quân đội cả hai bên, hoặc chỉ đang làm đồng, bán buôn ngoài chợ, ngoài thị trấn để kiếm sống. Trong bất kì trường hợp nào thì hầu hết thanh niên trai tráng đều lẩn đi khi lính Mỹ và lính Việt Nam Cộng hòa tới làng, vì nếu không bỏ trốn họ sẽ trở thành đối tượng khả nghi nếu không bị bắt đi lính thì cũng bị bắt bớ hoặc hành hình. Còn đối với phụ nữ, trẻ em và người già, những người khá chậm chạp và có cơ hội được tha mạng cao hơn nên nhóm người này thường bị bỏ lại.


Nhiều lính Mỹ cũng nảy sinh nghi ngờ vì dường như dân làng Việt Nam ai cũng biết tránh không dẫm phải mìn của Việt Cộng. Điều này không hẳn đúng; trên thực tế dân thường cũng chết hoặc bị thương bởi những vũ khí này. Nhưng đối với lính Mỹ, việc dân làng không cảnh báo về những nguy hiểm cũng là bằng chứng họ không làm Việt Cộng thì cũng về phe Việt Cộng.


Binh lính Mỹ không biết làm cách nào để phân biệt thường dân với du kích. Họ thường chỉ thấy một người mặc áo bà ba lướt qua – một trang phục mà mọi người vùng quê từ đàn ông đến đàn bà, già trẻ lớn bé, dân thường lẫn du kích đều mặc – thế nên từ đằng xa thì bóng đen của một phụ nữ vác cuốc trông cũng chẳng khác gì một du kích vác súng trường. Khi không thể phân biệt được địch ta, và nói chung chẳng dám mất thì giờ để làm điều đó, nhiều người lính Mỹ đã bắn bất kì ai chúng thấy, và chúng thường làm thế với sự ủng hộ ngầm hoặc mệnh lệnh công khai từ thượng cấp.
=====
4. CHI TIẾT CÔ GÁI ÁO ĐEN TRONG BỨC ẢNH CÁC PHỤ NỮ TRƯỚC KHI BỊ GIẾT HẠI:
Bức hình được chụp bởi nhiếp ảnh gia phục vụ trong quân đội Mỹ - Ronald Haeberle.


Bức ảnh trên đây thường chỉ được biết tới một cách chung chung rằng dân làng Mỹ Lai trong trạng thái hoảng loạn trước khi bị lính Mỹ giết hại. Tuy vậy, vẫn còn một chi tiết ám ảnh khác mà mãi tới gần đây trang tin ảnh BagNews mới phát hiện ra và công bố rộng rãi cho người dân Mỹ biết.


Trong bức ảnh này ẩn chứa một bi kịch thứ hai chưa từng được nói đến, câu chuyện nằm ở “Cô gái mặc áo cánh đen”. Cô gái đang cài lại cúc áo, hành động này chưa từng được để ý tới một cách kỹ càng.


“Trong khi những người khác đang hoảng loạn vì sắp bị giết, cô gái lại lo lắng cài mấy chiếc cúc áo bị bung, điều đó không có gì kỳ lạ sao?”


Ngay sau đó, câu trả lời đau xót được đưa ra. Đó là bởi trước khi những người phụ nữ này bị thảm sát, trước khi bức ảnh này được chụp, cô gái đã bị một nhóm lính Mỹ cưỡng hiếp, cô đã hoàn toàn mất cảm xúc trước nỗi đau và sự ô nhục mà bọn quỷ dữ đã gây ra cho mình...


Sự thật này thực tế đã được khẳng định rõ ràng trong các tài liệu lưu trữ chính thức về vụ thảm sát Mỹ Lai nhưng nó đã bị giới truyền thông Mỹ “lờ đi” trong suốt những năm qua. Công chúng Mỹ hầu như không hề hay biết đến một thảm kịch thứ hai ẩn sau bức ảnh nổi tiếng này.
5. KHÔNG THỂ CHUỘC LỖI:
Hơn 20 năm qua, năm nào cựu binh Mỹ Roy Mike Boehm cũng về Quảng Ngãi kéo vĩ cầm bên chân tượng đài tưởng niệm chứng tích Sơn Mỹ cầu siêu cho nạn nhân vụ thảm sát, với hy vọng gửi thông điệp tình yêu hòa bình, hàn gắn nỗi đau chiến tranh.


Cũng mỗi dịp tháng 3, cựu binh Mỹ Billy Kelly lại mang 504 đóa hồng đặt dưới chân tượng đài kèm theo tấm thiệp với dòng chữ: “Tôi đến chia buồn với bạn và gia đình... Cả thế giới luôn nhớ về các bạn, luôn chia sẻ nỗi đau buồn và mất mát này".


Nền dân chủ 2012 (Tổng hợp từ nhiều nguồn)

4 Nhận Xét :

  1. Tội ác chiến tranh, những cuộc thảm sát tàn nhẫn của lính Mỹ nhằm vào người dân vô tội của Việt Nam.Sự bàng hoàng và khiếp sợ của những người chứng kiến chúng. Chiến tranh là một điều thật kinh khủng, hòa bình luôn là ước mơ và thứ mà các quốc gia nên gìn giữ.

    Trả lờiXóa
  2. Vì lợi ích cá nhân, tham vọng quyền lực, đẩy cả dân tộc vào lầm than. Chúng sẵn sàng bắt tay với Mỹ, đồng ý cho Mỹ đưa quân vào Miền Nam. Xã hội tốt đẹp ư, hòn ngọc viễn đông ư. Không tất cả chỉ là giả dối, mỵ dân. Những bức ảnh là minh chứng cho cuộc chiến phi nghĩa. Mỹ đã biến miền nam Việt Nam thành nghĩa địa của chết chó, rượi, ma túy và đĩ điếm. Xin được nghiêng ,ình trước nhưng người trong tđã chết trong thảm sát Mỹ Lai.. Nước Mỹ hãy cho người Viêt Nam câu trả lời thích đáng về việc làm của mình.

    Trả lờiXóa
  3. đúng là lũ dân chủ , nó đem sang những thứ ác đọng hành hạ dân ta , chỉ dược chúng có lắm tiền mà nhiều người hoa mắt theo chúng mà không biết nhục , mình công nhận rằng chúng nó có nhiều thành tựu khoa học kĩ thuật lâu đời nhưng không phải vì thế mà ta không biết học hỏi mà làm tốt cho dân tộc ta

    Trả lờiXóa
  4. Người tử tế14:07 23 tháng 6, 2015

    Tội ác chiến tranh là đây: giết 504 thường dân (gồm 182 phụ nữ, trong đó 17 người đang có mang cùng với 60 cụ già trên 60 tuổi), thiêu hủy hoàn toàn 247 ngôi nhà và giết hại tất cả các loài súc vật trong khu vực xóm. Có lẽ nếu bạn là một con người theo đúng nghĩa thì sẽ ám ảnh cả cuộc đời này với những điều tởm lởm mà chiến tranh gây ra. Việt nam tôi, yêu hòa bình ghét chiến tranh mà!

    Trả lờiXóa

 
Chia sẻ