Nhãn

Thứ Hai, 25 tháng 1, 2016

Đảng cộng sản Việt Nam có xứng đáng để lãnh đạo đất nước Việt Nam?

Trải qua 86 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực sự là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho quyền lợi của của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam. Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đóng góp xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì hoà bình và tiến bộ của nhân loại.


thong_cao_dai_hoi_dang_12Toàn cảnh Đại hội XII của Đảng cộng sản Việt Nam (nguồn:internet)



Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng trải qua những thăng trầm của lịch sử, giành thắng lợi vĩ đại trong  Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đã xoá bỏ chế độ thực dân, nửa phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tiếp đó, Đảng lãnh đạo nhân dân vừa kháng chiến vừa kiến quốc, bảo vệ thành công chính quyền non trẻ trước bối cảnh "thù trong giặc ngoài" năm 1946, làm nên chiến thắng Việt Bắc Thu Đông năm 1947, Chiến thắng Biên giới năm 1950 và Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của trí tuệ và sức mạnh dân tộc, lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, làm nức lòng nhân dân thế giới. Tiếp đó Đảng lại tiếp tục lãnh đạo cách mạng hai miền, miền Bắc tiến hành cải tạo XHCN để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho CNXH, trở thành "hậu phương lớn" chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam. Còn miền Nam tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Với sự lãnh đạo tài tình của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, cách mạng Việt Nam đã có những thắng lợi vượt bậc, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Paris năm 1973 về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Và đỉnh cao của chiến lược "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào" bằng chiến thắng lịch sử của Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 đã quét sạch bóng quân thù, thu non sông về một mối.


Đất nước đã hòa bình, tuy nhiên, các thế lực phản động và thù địch vẫn tiếp tục các chiêu trò chống phá cách mạng Việt Nam. Đảng ta tiếp tục lãnh đạo toàn dân thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước, đã liên tục thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với nước bạn Lào và Campuchia, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc vào tháng o2 năm 1979 tại tuyến biên giới. Trong một thời gian dài Đảng vừa lãnh đạo xây dựng kinh tế, vừa kiên trì đổi mới trên nhiều mặt dẫn dắt dân tộc bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập sâu rộng kinh tế quốc tế.
Về kinh tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng đất nước đã có sự phát triển vượt bậc. Nếu như trước Cách mạng tháng Támcả nước chỉ có 200 xí nghiệp, với 90.000 công nhân, số sản phẩm công nghiệp đơn sơ, sản lượng ít ỏi. Đến nay cả nước có gần nửa triệu doanh nghiệp, trên 4,2 triệu cơ sở cá thể, với gần 1,5 triệu lao động... Sản phẩm công nghiệp vừa nhiều gấp bội về số loại, vừa gấp nhiều lần về sản lượng. Ở giai đoạn 1996 - 2000 mặc dù cùng chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực (giai đoạn 1997 - 1999) và thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp tuy nhiên vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá. GDP bình quân của cả giai đoạn 1996 - 2000 đạt 7%; trong đó, nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,1%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,5%; các ngành dịch vụ tăng 5,2%. “Nếu tính cả giai đoạn 1991 - 2000 thì nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân là 7,5%. So với năm 1990, GDP năm 2000 tăng hơn hai lần” (1). Giai đoạn 2001 - 2005 việc triển khai Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 và Kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, theo hướng tích cực, năm sau cao hơn năm trước. GDP tăng bình quân 7,5%/năm, riêng năm 2005 đạt 8,4%; trong đó, nông nghiệp tăng 3,8%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,2%; các ngành dịch vụ tăng 7%. Riêng quy mô tổng sản phẩm trong nước của nền kinh tế năm 2005 đạt 837,8 nghìn tỷ đồng, tăng gấp đôi so với năm 1995. GDP bình quân đầu người khoảng 10 triệu đồng (tương đương 640 USD), vượt mức bình quân của các nước đang phát triển có thu nhập thấp (500 USD) (2). Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu từ 50 vạn đến 1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Năm 2005, Việt Nam đứng thứ nhất thế giới về xuất khẩu hạt tiêu; đứng thứ hai về các mặt hàng gạo, cà phê, hạt điều; thứ 4 về cao su;… Giai đoạn 2006 - 2010: Nền kinh tế vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, từ nhóm nước thu thập thấp đã trở thành nước có thu nhập trung bình (thấp). GDP bình quân 5 năm đạt 7%. Mặc dù bị tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (từ cuối năm 2008), nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn đạt cao. Tổng vốn FDI thực hiện đạt gần 45 tỷ USD, vượt 77% so với kế hoạch đề ra. Tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 150 tỷ USD, gấp hơn 2,7 lần kế hoạch đề ra và gấp hơn 7 lần so với giai đoạn 2001 - 2005. Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỷ USD, gấp hơn 1,5 lần so với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỷ USD, vượt 16%. GDP năm 2010 tính theo giá thực tế đạt 101,6 tỷ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000 (3). Vượt qua khủng hoảng, năm 2012, GDP tăng 5,03% so với năm 2011. Mức tăng trưởng tuy thấp hơn mức tăng 5,89% của năm 2011, nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn thì đây là mức tăng trưởng hợp lý. Về sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản ước tính tăng 3,4% so với năm 2011; công nghiệp tăng 4,8% so với năm 2011. Chỉ số giá tiêu dùng năm 2012 tăng 6,81%. Đầu tư phát triển tăng 7% so với năm trước và bằng 33,5% GDP. Xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng 18,3% (10). Kim ngạch xuất khẩu có thể vượt qua mốc 100 tỷ USD, tỷ lệ kim ngạch xuất, nhập khẩu so với GDP năm 2011 đã đạt xấp xỉ 170%, đứng thứ 5 thế giới. Vốn FDI tính từ 1988 đến tháng 7-2012 đăng ký đạt trên 236 tỷ USD, thực hiện đạt trên 96,6 tỷ USD. Vốn ODA từ 1993 đến nay cam kết đạt gần 80 tỷ USD, giải ngân đạt trên 35 tỷ USD (4).


Những thành tựu về đối ngoại


Năm 1991, Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc; Nhật Bản nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam từ tháng 11/1992. Năm 1993, Việt Nam khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF); Ngân hàng Thế giới (WB); Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Tháng 7/1995, Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN. Trong các năm từ 1996 - 1988, Việt Nam tham gia Diễn đàn hợp tác Á - Âu và gia nhập tổ chức Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Tháng 7/2001, Việt Nam ký kết hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ và tuyên bố về quan hệ đối tác chiến lược với Nga; Năm 2002, khung khổ quan hệ đối tác tin cậy và ổn định lâu dài với Nhật; Ngày 11/1/2007, Việt Nam được kết nạp làm thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); Tháng 5/2008 thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam -Trung Quốc. Từ năm 2010, là một trong các thành viên tham gia đàm phát Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và đang hoàn tất những công đoạn cuối cùng để gia nhập hiệp định này. Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 185/193 nước thành viên Liên hợp quốc, quan hệ đối tác chiến lược với 13 nước; đối tác toàn diện với 11 nước; quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Chúng ta có quan hệ thương mại với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế;…


Bên cạnh đó chính trị Việt Nam được đánh giá là ổn định nhất khu vực và thế giới, Việt Nam còn được đánh giá là một quốc gia hòa bình, là điểm đến hấp dẫn của du khách quốc tế. Những thành tựu về phát triển văn hóa, y tế, giáo dục hay Quốc phòng, An ninh đã và đang đưa dân tộc Việt Nam phát triển vững mạnh trên vũ đài chính trị thế giới. Từ chỗ không thừa nhận Đảng cộng sản Việt Nam, Mỹ đã mời Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam đến thăm và làm việc với nghi thức cao nhất, đây là những thành tựu đối ngoại hiếm có khẳng định tư duy chiến lược về đối ngoại của Đảng ta cũng như cách nhìn nhận của thế giới về sự lãnh đạo của Đảng cộng sản ở Việt Nam.


Hiện nay Đảng cộng sản Việt Nam đang tiến hành Đại hội XII, các chính khách trên thế giới đang đặt nhiều hy vọng vào Đại hội XII đây sẽ là điểm đột phá chiến lược đảm bảo thực hiện thắng lợi cách nhiệm vụ cách mạng của Đảng trong giai đoạn tới. Các tổ chức đảng phái phản động lưu vong được thành lập ở nước ngoài đang tìm mọi cách tranh giành ảnh hưởng với sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên trong tiến trình cách mạng Việt Nam không hề có sự xuất hiện của các tổ chức, đảng phái này, hay nói cách khác chúng chẳng có vai trò, vị trí hay đóng góp gì cho sự phát triển của dân tộc. Ngược lại chính chúng đang kéo lùi sự phát triển của đất nước, làm đảo lộn các giá trị truyền thống của dân tộc. Chính vì vậy, chúng không có tư cách gì để tranh giành quyền lãnh đạo với Đảng cộng sản Việt Nam, và cũng khẳng định luôn rằng Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng và đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đó là quy luật tất yếu của lịch sử, quy luật của sự phát triển khách quan.


Trần Ái Quốc


Chú thích:


(1) Hà Đăng: Đổi mới - Những thành tựu lớn, trong Việt Nam 20 năm đổi mới, Sđd, tr. 572;


(2) Võ Hồng Phúc: Những thành tựu về kinh tế - xã hội qua 20 năm đổi mới (1986 - 2005), trong Việt Nam 20 năm đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006,  tr. 146;

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr. 151;

(4) Dương Ngọc: Kinh tế Việt Nam: 67 năm qua các con số, VnEconomy;

1 Nhận Xét :

  1. Xứng đáng hay không thì hàng chục năm qua các cậu chưa hiểu rõ à ? Đảng xuất thân từ chính nhân dân mà ra, thì Đảng sẽ chắc chắn hiểu dân và sẽ phục vụ cho chính lợi ích của nhân dân. Kháng chiến trường kỳ lật đổ chế độ phong kiến, đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cai trị hơn một thế kỷ. Người dân Việt Nam sống trong xiềng xích nô lệ đã lâu, nhưng chính nhân dân đã đứng lên đại bại tất cả giặc ngoại xâm, trong đó có công lao lớn nhất và quan trọng nhất chính là sự đồng lòng hợp ý của nhân dân và Đảng Cộng Sản Việt Nam. Điều đó kẻ thù cũng không thể phủ nhận nữa là quân bán nước, rẻ vàng đang hú hò ngoài Hồ Hoàn Kiếm.
    Thử hỏi ai bất tài vô dụng khi Tổ quốc lâm nguy thì ai hành động và ai nói mồm ?

    Trả lờiXóa

 
Chia sẻ