Nhãn

Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017

Về đám xét lại mang mác Nhà sử học!

Tổ quốc Việt Nam trải qua trăm đắng ngàn cay mới có được ngày nay: Nhân dân bốn cõi một nhà cùng hướng tới nền thái bình thịnh trị. Lòng người bất trắc khôn lường. Dù được hưởng ân huệ từ máu xương bao nhiêu thế hệ mà những kẻ mang chiêu bài “nhân danh” đủ thứ đang làm rối loạn nhân tâm, khuấy động sự an bình ổn định của đất nước. Càng nguy hiểm hơn với người khoác áo “sử gia” làm rối tung lên cái kho tàng lịch sử mà không mấy người có điều kiện tìm hiểu tới ngọn nguồn. 
Khu gọn vụ “ngọn đuốc sống” để bạn đọc thấy ra chân tướng của mấy người này. Xin phép được hệ thống lại sự việc để bạn đọc đỡ mất công tìm kiếm:
Cuối tháng 2/2005, Khôi Nguyên (báo NGƯỜI VIỆT) đưa tin từ Hà Nội: Tại cuộc họp của hãng phim thuộc đài truyền hình Việt Nam, nhằm thông báo sẽ thực hiện chương trình sản xuất 100 tập phim hoạt hình nội dung lịch sử dân tộc Việt Nam, có mặt một số phóng viên và nhà sử học Dương Trung Quốc cùng tham dự, giáo sư Phan Huy Lê (GsPHL) đã tiết lộ: “Nhân vật lịch sử anh hùng Lê Văn Tám là hoàn toàn không có thật!”. Phóng viên giải thích: Trong phần phát biểu về tính chân thực của các nhân vật lịch sử, đột nhiên GsPHL nhớ lại: “Tôi còn một món nợ với anh Trần Huy Liệu (THL) mà đến nay chưa trả được. Đó là lúc anh Liệu làm bộ trưởng Bộ tuyên truyền cổ động, anh tự viết về nhân vật Lê Văn Tám, một thiếu niên tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng giặc Pháp ở Thị Nghè”… “Lúc sáng tác ra câu chuyện Lê Văn Tám, anh Liệu có nói với tôi (PHL) rằng: Bây giờ vì nhiệm vụ tuyên truyền nên tôi viết tài liệu này, sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, các anh nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa”. GsPHL cũng đề cập tới chi tiết phi lý trong câu chuyện ngọn đuốc sống Lê Văn Tám (LVT): “Cậu bé LVT sau khi tẩm xăng vào người và tự châm lửa đốt vẫn còn khả năng chạy từ ngoài vào kho xăng với quãng đường 50mét. Tôi (PHL) đã hỏi một số bác sỹ và họ cho rằng với sức nóng của lửa xăng, một em bé không thể chạy xa như vậy!”. Rồi ông (PHL) hứa: “Riêng về bản thân tôi, là một nhà sử học, tôi đã và đang viết bài để công bố sự thật về nhân vật này một cách chi tiết và thấu đáo nhất dưới góc nhìn của lịch sử và tôi dự định trong thời gian sớm nhất. Bởi vì trong năm nay (2005), nhà nước đang chuẩn bị rất nhiều ngày lễ lớn, trong đó có ngày 30/4. Tôi muốn công bố bài viết của mình trong một điều kiện bình thản hơn và không muốn việc của mình bị cuốn hút vào các sự kiện lớn khác. Tôi đang chờ một dịp thuận lợi và nhất định là tôi sẽ làm”.
Quan trọng thế mà nói rồi để đấy?!
Người viết lưu ý bạn đọc mấy điều: 1/- Ông Trần Huy Liệu (1901-1969) là một yếu nhân trong thời kỳ đầu của cách mạng tháng Tám. Sau đó ông là người chủ chốt xây dựng nền sử học của nước Việt Nam độc lập. Vậy sao 35 năm sau khi ông THL qua đời (1969-2005), ông PHL bỗng dưng “nói hoắng” chuyện ra, có cơ sở nào tin được?
2/- Vụ đốt kho xăng Thị Nghè xảy ra khoảng giữa tháng 10/1945, PHL sinh 1934 lúc đó mới hơn 10 tuổi. Cuối năm 1946, khi toàn quốc kháng chiến thì ông Trần lên chiến khu Việt Bắc, cuối năm 1954 ông mới theo các cơ quan TW về Hà Nội. Trong khi cậu học trò xứ Nghệ học trung học kháng chiến chương trình 9 năm ở vùng tự do Khu IV, sau 1954 mới ra Hà Nội học khóa Đại học đầu tiên sau giải phóng. Đến lúc này ông THL đã biết PHL là ai đâu?
3/- Chuyện Lê Văn Tám là do ông THL tự viết (tức là bịa ra – NV) nhân có vụ một kho xăng ở Thị Nghè bị đốt cháy. Báo Cứu quốc số 74 ra ngày 23/10/1945 đưa tin trong cuộc họp báo tại Hà Nội, Hồ Chủ tịch nói: “Sự hy sinh của đồng bào ta trong cuộc chiến đấu oanh liệt trong Nam bộ bây giờ, cái cử chỉ phi thường của một chiến sỹ tự tẩm dầu xăng vào mình để vào đốt một kho dầu của bên địch, tỏ ra rằng một dân tộc đã có tinh thần cao đến bậc ấy thì không sức mạnh nào có thể đè bẹp được” và chính ông PHL đã dẫn chứng báo Kèn gọi lính ngày 18/10/1945 đưa tin: “Một thiếu niên 16 tuổi nhất định không nói tên, họ, làng, tình nguyện lấy thân mình làm mồi dẫn hoả. Em quấn vải quanh mình, tẩm dầu xăng, sau lưng đeo một cái mồi, đứng im đốt mồi lửa, miệng tung hô “Việt Nam vạn tuế”, chân chạy đâm xầm vào kho đạn”. Vậy thì ông THL cần gì phải bịa chuyện nữa trong tình thế dầu sôi lửa bỏng lúc bấy giờ thiếu chi việc cần làm? Và nếu có thì viết trên báo nào? Truy tìm ra không khó vì ông THL là một yếu nhân chớ không phải là một nhà nhà báo gom tin điền vào chỗ trống.
Hơn bốn năm sau, câu chuyện râm ran và lan rộng, cán bộ chiến sỹ từng tham gia chiến đấu ở Sài Gòn những ngày đầu chống Pháp lên tiếng phản ứng quyết liệt. Lúc này trên Tập san sử học Xưa & Nay (số 340 tháng 9/2009) ông PHL mới lên tiếng “Về câu chuyện Lê Văn Tám” nhưng đổi giọng, lờ tịt đi câu ông đã tung ra “Nhân vật lịch sử anh hùng Lê Văn Tám là hoàn toàn không có thật!” và chối khéo bằng những lời lẽ loanh quanh, mập mờ, lắt léo, lý sự cù cưa. Bởi lỡ trớn rồi, cố giải trình là mình vô tư trong sáng thì lại càng lòi ra cái sự bất minh!
Trước hết ông PHL phân bua: Trong những năm 1954-1958, khi tôi đang học ở Khoa Văn trường ĐHSP Hà Nội, GsTHL có đến giảng một số bài về CMVN. Vào những năm của thập kỷ 1960 lúc đang làm Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, vài năm trước khi mất, ông nói câu chuyện này rất nhiều lần với tôi (PHL), có cả mấy người khác cùng nghe!
Viện dẫn lời dặn của GsTHL mà ông (PHL) đã lĩnh hội như sau: Nhân vụ kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy vào khoảng tháng 10/1945 và loan tin rộng rãi trên báo chí trong nước và đài phát thanh của Pháp, đài BBC của Anh, nhưng không biết ai là người tổ chức và trực tiếp đốt kho xăng nên tôi (GsTHL) đã dựng lên câu chuyện thiếu niên có tên Lê Văn Tám tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng địch cách đấy mấy chục mét (?) nhằm tuyên truyền động viên tinh thần chiến đấu của quân dân ta trong những năm đánh Mỹ (?) (vào thời điểm 1945-1954, đế quốc Mỹ chưa xuất đầu lộ diện trong chiến tranh xâm lược Việt Nam – NV)... Một số tin, đài phương tây phản hồi sự phi lý chú bé tẩm xăng vào mình, ngọn lửa bùng lên mà còn đủ sức chạy một quãng đường dài 50mét khiến nhà báo lão làng giật mình thấy ra chỗ hớ hênh và cứ ân hận mãi đến cuối đời!
Kho xăng là một khu vực rộng lớn, chẳng biết ông THL hay ông PHL cho cậu bé chạy từ đâu tới đâu để ước ra một khoảng cách cụ thể là 50mét? Khi nhà văn, nhà báo bậc thầy đã biết tự trách mình thiếu cẩn trọng để xảy ra sự không hợp lý thì cần gì ai mất công đi tìm “vài ông bác sỹ” (!) làm người biện hộ? Có ông bác sỹ nào dớ dẩn trả lời câu đố oái oăm không thuộc chức năng nghề nghiệp của mình?
Ông PHL nhấn mạnh là “GsTHL không hề hư cấu sự kiện kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy mà trên sự kiện có thật đó, chỉ dựng lên theo cách nói của GS chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng đốt cháy kho xăng địch”. Tưởng gỡ được cho ông thầy thoát bị tai tiếng bịa chuyện, ông PHL bốc lên tán dóc: “GS (THL) dựng chuyện thiếu niên Lê Văn Tám là nghĩ đến biểu tượng cậu bé anh hùng làng Gióng (Phù Đổng Thiên Vương). Tám là nghĩ đến cách mạng tháng Tám và họ Lê Văn rất phổ biến ở nước ta!”. Ông Cao Đức Trường chỉ là “người nghiên cứu sử tay ngang” nhưng đã có sự phản biện khoa học rất thuyết phục (Lê Văn Tám không phải là truyền thuyết – Tuần báo VNTPHCM số 478).
Ông PHL còn gia cố lòng tin của người đọc với mình bằng lời trăng trối quá ư chu đáo của ông thầy: “GS (THL) còn tiên lượng là biết đâu sau này có người đi tìm tung tích nhân vật Lê Văn Tám hay có người lại tự nhận là hậu duệ của gia đình, họ hàng người anh hùng”. Xã hội đều thừa nhận và kính trọng ông THL là một trí thức lớn, nho học, tây học tinh thông, một người yêu nước nhiệt thành, một chiến sỹ cách mạng kiên cường. Mời bạn đọc xem cuốn hồi ký “Cõi người” của nhà văn, nhà báo Trần Chiến có vài dòng cô đúc về cha mình: “THL là con người tìm kiếm nhưng tìm kiếm con người THL là một việc làm không dễ. Thấy rồi không dễ viết ra. Viết ra rồi vẫn khó xuất hiện ở dạng toàn vẹn... Về phương diện chính trị ông bồng bột, nông cạn...”. Đành rằng tinh thần lạc quan cách mạng là yếu tố không thể thiếu ở người chiến sỹ trong cuộc chiến đấu lâu dài cam go quyết liệt, nhưng vào thời điểm những năm 1960, trong khi Cụ Hồ âm thầm viết Di chúc “Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa nhưng nhất định thắng lợi hoàn toàn”, thì ông Trần có thể lạc quan, lạc lõng tới mức nghĩ đến ngày thắng lợi sẽ có những người đi “nhận vơ” công lao thành tích của người đã ngã xuống trên đường tranh đấu?! Cướp công nghĩa sỹ là việc làm bất nhân trái với đạo lý truyền thống Việt Nam. Trước khi nhà nước ta có “ngày thương binh liệt sỹ 27 tháng 7” như hiện nay thì ở Huế hàng năm nhân dân tự động “cúng âm hồn vào ngày 23 tháng 5 ÂL”, tưởng nhớ những nghĩa binh bỏ mình khi Kinh đô thất thủ. Hiện nay cả xã hội đang gắng sức làm công việc “đền ơn đáp nghĩa” và rất mong tìm được thân nhân “ngọn đuốc sống” đặng xác minh chính danh gốc tích người anh hùng. Dù sao thì ngọn lửa Lê Văn Tám đã là biểu tượng thiêng liêng bất diệt của tinh thần yêu nước Việt Nam.
Ông PHL sống chết thề rằng: “Tôi kể lại câu chuyện này một cách trung thực với tất cả trách nhiệm và danh dự của một công dân, một nhà sử học”. Nhưng đã gọi là làm khoa học thì có ai ngây ngô tin vào một câu chuyện “khẩu thiệt vô bằng”, thưa ông thầy dạy sử? Ông dùng búa tạ “táng” không thương tiếc vào tượng đài lại còn dạy người ta hãy ứng sử với biểu tượng ấy thế nào! Có là chuyện hài hước chăng, khi một số người ở trong và ngoài nước mang chức danh học vị này nọ cứ khư khư bám lấy mấy câu nói vu vơ bất nhất độc tâm ác ý ấy để rêu rao hòng làm giảm đi ý nghĩa cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược phương tây của dân tộc ta trong thế kỷ XX.
Cuối cùng thì dù có loanh quanh đôi chối thế nào, ông PHL cũng phải thừa nhận sự thật lịch sử là: “Lê Văn Tám không phải là tên nhân vật lịch sử có thật nhưng phản ánh một sự kiện lịch sử có thật, một tinh thần hy sinh vì Tổ quốc có thật. Đó là một biểu tượng đã đi vào lịch sử mang tính phổ biến và thiêng liêng”. Ông Cao Đức Trường (bđd) từng ăn cơm tù Côn Đảo non chục năm trời vì cái tội “chiêu hồi binh sỹ quốc gia quay về với chính nghĩa dân tộc”, lý giải rất rõ những khoảng trống trong hồ sơ lý lịch của những chiến sỹ hy sinh trong chiến đấu hoặc bị địch bắt bớ tù đày.
Qua những tư liệu thành văn được lưu giữ và những nhân chứng, bằng chứng là báo chí đương thời của cả hai bên ta - địch, được nhiều bạn viết tâm huyết công phu sưu tầm, truy cứu đã công bố rải rác trên nhiều tờ báo phía Nam, trong đó có tuần báo Văn nghệ TPHCM từ năm 2009 tới nay, sự việc “ngọn đuốc sống” được xác định như sau:
1/- Vụ đốt kho xăng Thị Nghè vào những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến sau khi nước nhà mới giành được độc lập, là một việc làm có tổ chức, do đồng chí Lê Văn Châu phụ trách, chiến sỹ thực hiện nhiệm vụ là một thiếu niên tên TÁM, nhà ở khu vực Đa Kao. Liệt danh Thằng Tám, Em Tám, Bạn Tám xuất hiện ngay sau vụ việc xảy ra, được nhân dân địa phương, chiến sỹ mặt trận Sài Gòn – Gia Định và cả lục tỉnh Nam kỳ qua nhiều thế hệ nhắc tới với lòng thương yêu, cảm phục.
2/- Cần phân biệt rõ hai trận đánh Kho đạn Pyrotechnicque kế bên Sở thú và Kho xăng Simon Piétri bên chợ Thị Nghè, thời gian quá lâu chứng nhân dễ lẫn. Về nguyên tắc thì kho xăng và kho đạn không được để chung một chỗ. Hai điểm này cách nhau con rạch chừng vài trăm mét. Sự việc nổ kho đạn xảy ra ngày 8/4/1946 sau vụ cháy kho xăng 17/10/1945, thời gian cách nhau chừng 6 tháng. Vụ nổ kho đạn (Hồi ký Những năm tháng không thể nào quên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hồi ký của nhà cách mạng Dương Quang Đông, Hồi ký của ký giả Nam Đình tức Nguyễn Kỳ Nam) địch bị tổn thất rất nhiều, chấn động nhân tâm rất lớn. Kho xăng dầu Thị Nghè thực ra là một trạm trung chuyển của hãng dầu Shell, không lớn lắm, nằm trên bờ tây rạch Văn Thánh, gần chợ Thị Nghè và cầu Phú An, trên đường Ngô Tất Tố, quận Bình Thạnh ngày nay, ô. Lý Châu Hoàn có vẽ sơ đồ chỉ dẫn (Văn nghệ TPHCM số 383).
Vậy đã có thể gọi là tôn trọng sự thật, tìm ra sự thật chưa hay còn phải xác minh sự thật thế nào nữa để có thể “tạo lập một nền tảng nhận thức khoa học, khách quan về quá trình hình thành biểu tượng Lê Văn Tám”, thưa vị GS đầu ngành sử học của nước Việt Nam đương đại?
Nguyên do gì mà suốt 60 năm qua “ngọn đuốc sống” vẫn sáng trong lòng nhân dân cả nước, không dưng bỗng ai mưu toan dập tắt nó đi? Xin thưa, bởi sử học vốn là môn khoa học dễ nhạy cảm với “thiên thời”. Năm 1991, Liên bang Xô viết cùng với hệ thống XHCN xụp đổ. Sau khi tổ chức nhà nước do Đảng cộng sản cầm quyền tan rã, các thế lực thù địch tiếp tục đánh phá vào hệ thống tư tưởng, quyết xóa bỏ các thành tựu văn hóa xã hội kể cả ý nghĩa của những chiến công rất đáng tự hào cùng với những biểu tượng bất diệt của nó, chẳng hạn như vụ xuyên tạc sự hy sinh của nữ anh hùng du kích Dôia ở Liên Xô. Làn gió độc ấy lập tức được các phần tử cơ hội, chống đối ở Việt Nam hân hoan đón lấy. Trường hợp “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám” mở đầu cho trào lưu đó.
Tuy nhiên ông Phan Huy Lê già đời, tham vọng lớn, thâm trầm mưu mẹo, kịp nhận ra ở Việt Nam lúc này chưa hội đủ yếu tố “nhân hòa”, “địa lợi” nên “thắng” lại, lảng đi, bày chiêu trò khác. Mà trò Dương chẳng hiểu sao lại dở dói ra chuyện ấy, tất nhiên không khỏi liên lụy tới ông thầy! Trước đây trò Phan đã làm hại thầy Trần thì nay trò Dương làm hại thầy Phan, âu cũng là luật “nhân-quả” ở đời! Bởi cái cố tật “nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy” (Một lời nói ra, cỗ xe 4 ngựa đuổi theo không kịp) nên ông Dương hay bị vạ miệng. Chuyện ông nghị Phước tặng cho ông nghị đồng khóa cái danh “tứ đại”, khó ai quên. Dẫn chứng thêm vài chuyện để bà con ta suy ngẫm: Ngày 29/1/2011, trước sự ra đi của vị nhân sỹ lão thành khả kính, vị Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – giáo sư Vũ Đình Hòe, trả lời phỏng vấn của báo điện tử Vietnamnet, ông ta buột khẩu một câu xanh rờn: “Thế hệ chúng ta mất gốc hoàn toàn!”. Cách đây không lâu, tại nghị trường Quốc hội, ông cự vị Giám đốc công an Hà nội sao chưa trả tiền cơm nuôi hơn ba chục chiến sỹ công an đang thi hành nhiệm vụ bị người dân địa phương Đồng Tâm bắt giam trái phép mấy ngày trong vụ Miếu Môn? Trong khi chính số bà con Đồng Tâm đã nhìn ra sai trái của mình nên bày cách chạy tội ép ông Chủ tịch TP. Hà Nội phải hứa bỏ qua sự việc! Ngày 30/10/2017, trả lời Đài Á châu tự do, ông lại nói xằng: “Nhân vật Lê Văn Tám rõ ràng là một truyền thuyết của thời hiện đại. Có những người muốn tin nó là thật, nhưng có những người cảm thấy khó tin”... vân vân... và vân vân... Thật không hiểu ông là vị dân biểu? là người nghiên cứu sử? hay là kẻ đốt đền? Một thời công luận đã dịu đi giờ lại nổi lên làn sóng bất bình!
Trong giới sử học nước Nam hiện thời, ông thầy PHL đang “múa gậy vườn hoang” và anh trò DTQ chỉ như cái “thùng rỗng”, dựa vào nhau tung hứng, lấy gậy làm dùi, lấy thùng làm trống cũng vang! Ông DTQ rất đáng tự hào về truyền thống yêu nước của gia đình. Xin kính cẩn bái vọng anh linh liệt sỹ Dương Trung Hậu, cho kẻ hậu sinh đặt câu hỏi với quý tử của bậc tiền nhân: Được biết lúc ông nghị (DTQ) còn nằm trong bụng mẹ thì quý thân phụ hy sinh trong trận chiến bất cân sức với giặc tại chợ Đồng Xuân gần nhà. Đó là trận chiến bại tiêu biểu ở mặt trận Hà Nội cuối năm 1946 mà kẻ thắng cũng phải vỡ mật kinh hồn. Tuy nhiên các chiến sỹ anh hùng của ta hy sinh ráo trọi! Vậy còn ai là chứng nhân đích thực biết rõ lực lượng địch-ta chênh lệch thế nào? Bao nhiêu chiến sỹ hy sinh? Tính danh và trường hợp hy sinh cụ thể của từng người? Theo tự điển Hán-Việt của Đào Duy Anh giải nghĩa: Truyền thuyết: nói lại với người khác. Vậy thì truyền thuyết về trận chiến Chợ Đồng Xuân ngày ấy có thể tin không? Chúng tôi, lớp hậu sinh không gợn chút nghi ngờ về truyền thống giữ nước của dân tộc. Từ tinh thần “Cảm tử cho tổ quốc quyết sinh” của chiến sỹ Tự vệ và Vệ quốc đoàn ngày ấy mà 8 năm sau, những chiến sỹ QĐNDVN phất cao cờ chiến thắng trên nóc hầm tướng Pháp chỉ huy căn cứ Điện Biên Phủ. Cũng như từ “ngọn đuốc thiêng” ngày ấy mà 30 năm sau dù “miền Nam đi trước về sau”, thế hệ con em những chiến sỹ “Thành đồng tổ quốc” đã phất cao cờ chiến thắng trên dinh lũy cuối cùng của bọn cướp nước và bán nước.
Hai nhà sử học nổi cộm của nhà nước Việt Nam đương đại hẳn đã có dịp đến Thủ đô ánh sáng Paris, nghiêng mình trước tượng Thánh nữ Jeanne d’Arc – người con gái anh hùng trong cuộc chiến tranh trăm năm Anh-Pháp, niềm tự hào của con cháu người Gaulois, đã được các văn nhân nghệ sỹ tài danh như Shakespeare, Voltaire, Schiller, Verdi, Tchaikovsky, Twain, Shaw… lấy làm biểu tượng sáng tác tôn vinh. Giả như tại đó các ông đưa ra cái lý sự kiểu như với “ngọn đuốc sống” ở Việt Nam của ông Phan Huy Lê: “Mọi biểu tượng hay tượng đài lịch sử chỉ có sức sống bền bỉ trong lịch sử và trong lòng dân khi được xây dựng trên cơ sở khoa học khách quan chân thực!”; hoặc của ông Dương Trung Quốc: “Đó chỉ là một truyền thuyết của thời quá khứ xa xăm, có pha màu huyễn hoặc (Nguyên văn: thời hiện tại, xin được sửa cho chính xác – NV) . Có những người muốn tin nó là thật, nhưng có những người cảm thấy khó tin!”, để xem người Pháp phản ứng thế nào?
Nước ta, triều Lê Thánh Tông là thời thịnh trị. Nhà vua từng mắng nhiếc mấy sử quan ăn ở hai lòng: “Các ngươi bảo nước ta là hàng phiên bang đời xưa, thế là người theo đạo chết, mang lòng không vua. Các ngươi nay thờ chủ này mai thờ chủ khác chỉ vì lợi lộc, sao trong lòng không tự xấu hổ mà chết ư”?
Sinh thời Bác Hồ có các cộng sự đức độ tài năng, một lòng vì dân vì nước, văn hóa, quân sự cầm chịch vững vàng, đất nước loạn ly gian khổ mà lòng người thuần nhất, vượt qua mọi trắc trở đi đến thắng lợi hoàn toàn. Giờ đây giang sơn đã thu về một mối mà lòng người bất định. “Thiên thời” biến động khó lường. Tình đời tráo trở trắng đen. Quan không bảo được dân. Trò phản thầy. Trẻ chẳng nghe già. Phải trái bất phân. Xã hội nhiễu nhương. Nước non điên đảo!
Trước những sai phạm về văn hóa, chính trị, tư tưởng, mà cứ xem thường coi như chuyện nhỏ, lại còn ve vãn mị ngôn với kẻ lờn phép nước thì tương lai không biết thế nào?!

0 Nhận Xét :

 
Chia sẻ