Nhãn

Thứ Năm, 7 tháng 12, 2017

Về Liệt sĩ Hoàng Văn Nhũng - Liệt sĩ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng!

Đó là Liệt sỹ Xuân Trường - tên thật là Hoàng Văn Nhủng, quê quán ở xóm Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, là vùng đất anh hùng nơi đã sinh ra những vị tướng lĩnh tên tuổi như Đàm Quang Trung, Lê Quảng Ba...
Bia tưởng niệm Liệt sĩ Hoàng Văn Nhũng

Ông sớm tham gia cách mạng từ thời niên thiếu. Năm 1940, ông được tổ chức cử đi học quân sự ở Liễu Châu (Trung Quốc) và trở thành một trong những đội viên vũ trang xuất sắc cùng với 4 đồng chí khác là Dương Đại Long, Hoàng Thế An, La Thanh, Lương Quý Sâm của châu Hà Quảng được đứng trong hàng ngũ 34 chiến sỹ đầu tiên làm lễ tuyên thệ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân vào Ngày 22.12.1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo, Nguyên Bình (Cao Bằng).

Xuân Trường hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, chưa có gia đình. Ngày 19-8-1961, đồng chí được Thủ tướng Chính phủ cấp Bằng Tổ quốc ghi công, được công nhận là liệt sĩ, chính là liệt sĩ đầu tiên của Quân đội ta. Để khắc ghi tên tuổi người chiến sĩ đã anh dũng hy sinh bảo vệ quê hương mình, xã Đồng Mu-nơi diễn ra trận đánh năm xưa, nay đã được đổi tên thành xã Xuân Trường.
Tên ông bây giờ đã được khắc trên bia đá tại Khu di tích lịch sử rừng Trần Hưng Đạo, đồn Phai Khắt - Nà Ngần nơi ghi dấu chiến công đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam; tại Sóc Hà - Hà Quảng, nơi ông sinh ra và lớn lên; tại di tích lịch sử đồn Đồng Mu (Bảo Lạc), nơi ông đã hy sinh và tại nghĩa trang liệt sỹ huyện Bảo Lạc, nơi ông yên nghỉ...
=====
TÌNH HUỐNG HY SINH:
“Lấy ngay súng của mình, đánh đi...”

Đồn Đồng Mu, thuộc xóm Nà Đoỏng, xã Đồng Mu (nay là xã Xuân Trường, huyện Bảo Lạc) là đồn giặc Pháp có vị trí quan trọng, kiểm soát tuyến đường từ Đồng Mu sang Sóc Hà (Hà Quảng) và đường từ Pác Lũng (xã Huy Giáp) sang Ba Bể (huyện Chợ Rã, tỉnh Bắc Kạn)…
Sau những thắng lợi giòn giã ở Phai Khắt, Nà Ngần, Đội VNTTGPQ đã chọn khu vực này làm mục tiêu thứ ba. Bởi lẽ, Ngày đó, để cách mạng phát triển xuống miền xuôi thì việc đánh đồn, mở thông huyết mạch giao thông là công việc cần kíp. Thế nhưng, đây là đồn được xây dựng khá kiên cố, nhiều lô cốt, tường dày, có lỗ châu mai, giao thông hào, thép gai bao bọc. Trong đồn, có nhiều lính khố đỏ do 3 tên sĩ quan Pháp chỉ huy và một số lính dõng... Sau khi trinh sát nắm tình hình, Ban chỉ huy đội nhận định không thể áp dụng cách đánh như khi đánh đồn Phai Khắt, Nà Ngần (cải trang đột nhập) mà phải lợi dụng đêm tối bí mật, tiến công tiêu diệt địch.

Đêm 4-2-1945, theo kế hoạch, đội tiến hành đột nhập chiếm nhà chỉ huy, sau đó các hướng đánh vào cùng nội ứng tiêu diệt địch. Thế nhưng, khi các tiểu đội của Xuân Trường, Quang Trung, Nam Long bí mật đột nhập thì bất ngờ bị địch phát hiện, chống trả quyết liệt. Tình huống diễn ra ngoài dự kiến, đồng chí Đàm Quang Trung cơ động quay trở ra, đề xuất với đồng chí Võ Nguyên Giáp: "Lộ rồi, đề nghị anh và anh Hoàng Sâm ở lại vị trí chỉ huy, chúng tôi vào được đồn sẽ cử người ra liên lạc".
Được sự đồng ý của đồng chí Võ Nguyên Giáp, Đàm Quang Trung dẫn một tổ xông vào đồn. Dù địch bắn ra rất rát, tổ vẫn đột nhập được vào trong đồn, nổ súng và đánh giáp lá cà. Tiểu đội trưởng Xuân Trường dẫn một tổ đột nhập theo lối cửa sổ, tiêu diệt ngay tên đốc gác và một số tên khác. Đạn hết, không kịp thay, Xuân Trường rút thanh kiếm và khẩu súng ngắn xông vào nhà chỉ huy, một số tên nữa bị diệt, quân địch rút vào cố thủ trong lô cốt, chống cự rất quyết liệt. Xuân Trường dừng lại để nạp đạn thì bị một viên đạn bắn xuyên qua ngực, ngã gục xuống. Lúc này, tổ tiếp ứng bên ngoài cũng vừa tới nơi, Xuân Trường gượng dậy gọi Thế Hậu: "Mình bị đạn rồi, cậu lấy ngay súng của mình, đánh đi!". Thế Hậu chạy tới đỡ Xuân Trường lên. Nhưng Xuân Trường gạt tay và giục: "Đánh đi, không lôi thôi gì với mình cả. Xung phong lên". Chỉ nói được vậy, Xuân Trường trút hơi thở cuối cùng trong lúc tiếng súng còn vang dội.

Trận đánh chưa hạ được đồn, nhưng ta diệt được 20 tên địch, thu 5 súng trường mút-cơ-tông và một số đạn, bắt được 3 tù binh. Khi toàn đội đã rút ra ngoài, Ban chỉ huy cử một số đồng chí ở lại cùng cơ sở và nhân dân tổ chức an táng đồng chí Xuân Trường. Trước lúc hành quân, toàn đội cúi đầu mặc niệm vĩnh biệt người đồng chí, đồng đội anh dũng, trung kiên...
====
Tuy nhiên, tại những di tích ở Cao Bằng cách ghi ngày tháng hy sinh của liệt sỹ Hoàng Văn Nhủng chưa có sự nhất quán: Ở Sóc Hà ghi là Nông Văn Nhủng, hy sinh ngày 14.4.1944. (Điều này là hết sức vô lý, vì ngày 22.12.1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân mới được thành lập. Và đến đêm 5.2.1945, Tiểu đội trưởng Xuân Trường mới chỉ huy công đồn Đồng Mu và cũng chính đêm ấy ông đã hy sinh.)
Tại bia ghi công ở nghĩa trang liệt sỹ huyện Bảo Lạc lại ghi là: Nông Văn Nhủng hy sinh ngày 22.1.1945. Còn mộ ông tại nghĩa trang này ghi hy sinh ngày 5.2.1945, trùng với tiểu sử của ông trong cuốn Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân.
Thiết nghĩ, những chi tiết về sự kiện lịch sử này cần phải được các cơ quan chức năng thống nhất khi ghi lên bia đá ghi công để mỗi người hiểu rõ lịch sử khi đến thăm những di tích gắn với tên tuổi liệt sỹ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam tại Cao Bằng.
====

Trần Ái Quốc (sưu tầm)

1 Nhận Xét :

  1. Thiết nghĩ, những chi tiết về sự kiện lịch sử này cần phải được các cơ quan chức năng thống nhất khi ghi lên bia đá ghi công để mỗi người hiểu rõ lịch sử khi đến thăm những di tích gắn với tên tuổi liệt sỹ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam tại Cao Bằng.

    Trả lờiXóa

 
Chia sẻ